Thứ Ba, 9 tháng 12, 2025

Chủ nghĩa thực dụng Mỹ muôn năm.

 Chủ nghĩa thực dụng Mỹ muôn năm.


Ngày nhỏ đang đi học tôi thường nghe các thầy giáo và

người lớn tán tụng chủ nghĩa thực dụng Mỹ.Tinh thần

ấy khiến Edeson, mà hồi nhỏ ở Huế tôi phiên âm thanh

Ai địch sơn để viết truyện cho thiếu nhi,làm đi làm lại

cả trăm lần thử nghiệm dây tóc bong đèn,có một tên

thuốc của Mỹ Nớp xăng cách to (nghĩa chin trăm bốn

mươi lần thử nghiệm)…Không có tinh thần ấy không

có ban Tuyên ngôn Độc lập Mỹ mà cụ Hồ buộc phải

dùng lại để tuyên truyền, cũng không có chuyện Bắc-

Nam Mỹ oánh nhau để xóa bỏ chế độ nô lệ và khi chiến

thắng thì bên thắng cuộc lai thực thi một cuộc hòa hợp

hòa giải rất nhân văn và cao thượng.Cũng không có

chuyện thắng Nhật rồi thì không chiếm cứ họ làm chư

hầu, như bọn Tau ngày xưa.Mà cũng không có chuyện

thấy không ăn được thì bỏ cuộc săn sàng phản bội động

minh VNCH để mưu cầu một kế sách khác sâu xa và

thâm hiểm hơn…

Giờ đây họ đang tăng thuế quan kiếm hàng ngàn tỉ

đô la mỗi năm.Trong cuộc chiến hiện nay ở Ukraine,họ

dấm dớ không viện trợ nữa mà sẵn sàng bán vũ khí cho

Ukraine để đánh lại Nga ngố,Họ ậm ừ không tuyên bố

thẳng thừng, Nga ngố xâm lược, phải trả lại đất cho

Ukraine, rút quân về chiến tuyến trước 2022,như Liên

Âu hiện nay tuyên bố không chấp nhận sự đổi thay biên

giới bằng chiến tranh.Rõ ràng Nga ngố đang đánh tráo

khái niệm, mà như một tác giả Mỹ La tinh dự báo từ thế

kỹ trước, nhân loại đang đứng trước Sự tráo trở phương

pháp luận (Tên một tiểu thuyết nỗi tiếng)Putin dẫu dùng


từ ngữ hàn lâm uyên bác thế nào, không gọi là chiến

tranh mà chỉ dung từ mỹ miều Cuộc hành quân đăc biệt!

Đặc biệt gì không biết, chỉ biết quân Nga cũng hành

động y hệt bao đội quân xâm lược khác xưa cũng như

nay:Cũng chỉ là cướp đất, cướp của, cướp người,(ngày

xưa thì cướp gái đẹp, cướp thầy, thợ giỏi, cả nhà

tu…)giờ đây Putin còn cướp cả trẻ con.Và cướp văn

hóa.Thế mà trên diễn đàn cao quý của LHQ vẫn có kẻ

bổ phiếu trắng, đi đêm mua bán đổi chác với kẻ gây tội

ác chiến tranh, kẻ xâm lược trong thế kỹ XXI TK của

Trí tuệ nhân tạo.

Tinh thần của chủ nghĩa thực dụng thơi AI, phải là đánh

cho quẹp mỏ mọi kẻ xâm lược dẫu chúng nhân danh

văn hiến phu tử, thánh Mahomet,hay thánh Ivan vĩ

đại.Phải cấm vận và chế tài với cả những tay ranh ma

lợi dụng, cũng là một thứ chủ nghĩa thực dụng rẽ tiền,

mua thêm dầu , thêm vũ khí giá rẻ ít điều kiện tiếp tay

cho bọn xâm lược…Kể cả nước Đông Lào.Phải bán

thêm vũ khí cho Ukraine kể cả cho họ nợ,câm vận, chế

tài Nga xâm lược, kẻ cả bọn đồng minh hoạc cơ hội

kiếm chác với Nga,buộc Nga phai từ bỏ chiến tranh, rút

quân khỏi biên giới của Ukraine, như Mỹ từng rút quân

khỏi Viêt nam hay Afganistan.Tinh thần thức dụng vĩ

đại Mỹ là như thế.

Hãy làm theo lời dạy rất nhân văn cao thượng của Ức

Trai Chân Nhân, một người đáng là bậc thầy định

hương nhân loại như W. Drucker, một người Mỹ từng

dự cảm*.”Tắt muôn đời chiến tranh”

Hãy cảnh giác và nén chặn lũ người còn lấy chiến lang

lấy hùm gấu làm tô tem mới và quốc sách


Hoan hô những người Mỹ đang xuống đường đòi Đỗ

nam Trung ** bảo vệ Ukraine, bảo vệ lẽ phải.Đó mới

thật sự là tinh thần thực dụng vĩ đại của Mỹ.

*W.Drucker, nhà tư tưởng của nền quản trị từng dự báo, Đất nước sẽ

định hường nhân loại là Việt Nam.

** Tên than mật, người Việt ừng giành cho Trump.

Nguyễn khắc mai minh triết lão nhân, người Ô Đồng

Lầm Hà nội.

Thứ Ba, 23 tháng 9, 2025

Hưởng ứng phát biểu của ngài Tô Lâm và góp vài đề nghị

 Hưởng ứng phát biểu của ngài Tô Lâm và góp vài đề nghị

Nguyễn Đình Cống

 

1-Giới thiệu. Về đối nội và đối ngoại

 Với cương vị Tổng bí thư kiêm Chủ tịch nước, ngài Tô Lâm đã có một vài phát biểu đáng chú ý về kỷ nguyên mới phát triển đất nước. Ông Nguyễn Quang A và một số người khác hy vọng rằng đó sẽ là kỷ nguyên dân chủ hóa đất nước. Mà cách dân chủ hóa tốt nhất  là từ trên xuống theo phương án thượng sách, nghĩa là chuyển dần từ độc quyền toàn trị sang dân chủ hóa trong hòa bình, tránh bạo lực, có kế hoạch, có sự tham gia, đóng góp của lãnh đạo cao cấp Đảng cộng sản. Tuy vậy cũng còn nhiều người, dựa vào quá khứ của ngài  Tô Lâm lúc còn làm lãnh đạo ở bộ Công an, dưới thời của cố Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng mà tỏ ra nghi ngờ. Tôi cho rằng nghi ngờ là đúng, nhưng xin chớ vì nghi ngờ mà vội vàng khẳng định. Nghi ngờ là để xem thử lời nói có đi đôi với việc làm hay không, theo phương châm “Chớ vội tin vào lời nói mà hãy xem kỹ việc làm”. Phải chăng lúc còn ở bộ Công an, ngài Tô Lâm phải làm theo ý chỉ đạo của cấp trên.

Với cương vị Chủ tich nước, ngài Tô Lâm,  trong một thời gian ngắn đã đến nhiều nước, gặp gỡ nhiều  nhân vật quan trọng, phát biểu nhiều ý kiến rất đáng quan tâm. Những người nghi ngờ cho rằng ngài chủ tịch nói vậy nhưng chưa chắc đã thật lòng mà chỉ là để thực hiện việc đối ngoại mà thôi.

Tôi nghĩ hơi khác. Lãnh đạo một đất nước, ngoài việc đối nội phải chú ý tới đối ngoại, mà đối nội là chủ yếu, đối ngoại phải trên cơ sở phục vụ cho đối nội. Quan trọng của đối ngoại là tạo được niềm tin cậy của các  nước bạn.  Mà để có được tin cậy thì phải chân thành và trung thực. Với những cơ quan tình báo nhà nghề như của Mỹ và các nước tiền tiến, làm sao mà dối được họ khi  nói một đàng làm một nẽo khác. Đối ngoại thường phải đặt lùi lại, sau đối nội, hoặc cùng lắm là ngang bằng đối nội, giống như tiền nhân đã tổng kết : Tu thân, Tề gia, Trị quốc, Bình thiên hạ. Chỉ những người vô minh mới đặt đối ngoại cao hơn, quan trọng hơn đối nội. Và nếu làm như thế vì một mưu đồ nào đó không trong sáng thì rất khó tránh khỏi sự sụp đổ tất yếu sẽ xảy ra.

Đối với ngài Tô Lâm, tôi theo phương châm “Kiên nhẫn chở đợi”, có nghĩa là “Không vội tin vào lời nói mà phải xem kỹ việc làm”. Để làm tốt công việc cải cách đụng chạm đến  thói quen và quyền lợi của một số người thì ngoài sự suy nghĩ, cân nhắc thật thấu đáo tình thế và tương quan lực lượng, còn phải lập kế hoạch hành động từng bước để tránh việc “Dục tốc bất đạt” (Muốn làm nhanh sẽ không đạt).

 

2-Hưởng ứng lời phát biểu tại đại học Columbia

Tôi đã đọc bài phát biểu của ngài Tô Lâm ngày 23 tháng 9 tại trường đại học Columbia do Tuổi trẻ online cung cấp (1). Xin  trích (nguyên văn hoặc tóm tắt). vài đoạn.

2.1- Mục 1- Về con đường của Việt Nam (tóm tắt)

Ngài Tô Lâm viết : “Con đường phát triển của Việt Nam không thể tách rời xu thế chung của thế giới và nền văn minh nhân loại”.

2.2-Quan hệ Việt Nam - Mỹ (bỏ qua)

2.3- Tầm nhìn cho kỷ nguyên mới: Vì nền văn minh vững bền, tiến bộ cho toàn nhân loại” có các mục sau: (Bạn đọc nào đã xem bài phát biểu của Ngài Tô Lâm có thể bỏ qua toàn bộ mục 2.3 này mà xem tiếp mục 2.4).

Một là, khẳng định và đề cao vai trò của tinh thần hàn gắn, tôn trọng và hiểu biết lẫn nhau (Tóm tắt): “Quan hệ hai nước có được ngày hôm nay là bởi Việt Nam và Mỹ đã không ngừng thúc đẩy quá trình hàn gắn, hiểu biết lẫn nhau và tôn trọng các lợi ích chính đáng của nhau. Trong đó, tôn trọng độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ và thể chế chính trị của nhau là quan trọng nhất. Với truyền thống nhân văn, hòa hiếu, khoan dung của dân tộc Việt Nam, chúng tôi đã rất chủ động trong các bước đi hàn gắn vết thương chiến tranh”

 

Hai là, coi trọng và thúc đẩy văn hóa đối thoại (toàn văn): 

Nhìn nhận một cách thẳng thắn, dẫu chúng ta đã đạt được những bước tiến lớn trong quan hệ, Việt Nam và Mỹ vẫn còn một số khác biệt quan điểm nhất định về vấn đề quyền con người trong các lĩnh vực kinh tế, chính trị, xã hội và tôn giáo… Nhưng điều quan trọng là chúng ta đã chọn đối thoại thay cho đối đầu. Không những vậy chúng ta còn đối thoại trên tinh thần cởi mở, thẳng thắn và xây dựng.

Tôi tin tưởng mạnh mẽ rằng, nếu các quốc gia đang có xung đột, tranh chấp thúc đẩy tìm giải pháp hòa bình thông qua đối thoại trên cơ sở luật pháp quốc tế thì mọi vấn đề dù phức tạp đến mấy cũng sẽ có hướng giải quyết. Đối thoại cần trở thành cách hành xử phổ biến, là công cụ hữu ích và quan trọng hàng đầu cho nền văn minh của chúng ta”.

 

Ba là, phát huy tinh thần trách nhiệm cao nhất đối với cộng đồng quốc tế (tóm tắt)  : “Vượt lên trên khuôn khổ song phương, hợp tác Việt Nam - Mỹ đã dần mang tầm khu vực và toàn cầu, nhất là trong ứng phó biến đổi khí hậu, chống phổ biến vũ khí hủy diệt hàng loạt, chống khủng bố, gìn giữ hòa bình Liên Hiệp Quốc…, qua đó đóng góp ngày càng tích cực vào hòa bình, ổn định, hợp tác và phát triển ở khu vực châu Á - Thái Bình Dương và trên thế giới”

.

Bốn là, luôn đặt Nhân dân ở vị trí trung tâm (toàn văn): “Quan hệ Việt Nam - Mỹ có được thành tựu hôm nay là bởi hai bên đều hành động theo lợi ích của người dân, đáp ứng nguyện vọng của Nhân dân.

Trong xây dựng và phát triển đất nước, Việt Nam tiếp tục nêu cao lý tưởng mà Chủ tịch Hồ Chí Minh và các vị lãnh đạo lập quốc của Mỹ cùng chia sẻ là xây dựng Nhà nước "của dân, do dân, vì dân". Những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử mà Việt Nam đạt được sau gần 100 năm lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, trong đó có gần 40 năm Đổi mới cũng bởi Đảng luôn lấy việc phục vụ Nhân dân làm kim chỉ nam và mục tiêu phấn đấu, luôn trung thành vô hạn với lợi ích của Tổ quốc, của Nhân dân. Nhân dân làm nên lịch sử. Đó là tư tưởng văn minh, là giá trị phổ quát chung của cộng đồng quốc tế. Chúng ta thấy ASEAN và Liên Hiệp Quốc đều có tôn chỉ lấy người dân làm trung tâm”.

 

Năm là, đoàn kết và hướng về tương lai (toàn văn)“Trong bối cảnh thế giới đang trong thời kỳ thay đổi có tính thời đại, nhân loại cần có tầm nhìn xa và sự đoàn kết hơn bao giờ hết. Không một quốc gia đơn lẻ nào, dù mạnh đến đâu, có thể một mình xử lý những vấn đề chung của thời đại. Đó là cách tiếp cận và định hướng mà Hội nghị Thượng đỉnh Tương lai của Liên Hiệp Quốc đã nêu rõ.

Phương châm của Việt Nam là gác lại quá khứ, hướng tới tương lai. Chúng tôi không quên quá khứ, nhưng không để quá khứ trở thành gánh nặng cản trở sự phát triển của hiện tại và tương lai. Điều này vừa kết tinh từ truyền thống nhân văn của dân tộc Việt Nam, vừa phản ánh lối ứng xử đã trở thành bản sắc trong đường lối đối ngoại của chúng tôi. Tôi tin tưởng rằng với cách tiếp cận đề cao đoàn kết quốc tế, hướng về tương lai, cũng như câu chuyện thành công của quan hệ Việt Nam - Mỹ, thế giới sẽ biến những điều không thể thành có thể, tiếp tục dựng xây một nền văn minh vững bền, tiến bộ cho toàn nhân loại”.

 

2.4- Phân tích nội dung mục 2.1 và 2.3

2.4.1-Về câu trong mục 2. I, đó là câu mà tôi cho là rất quan trọng, xin chép lại : Con đường phát triển của Việt Nam không thể tách rời xu thế chung của thế giới và nền văn minh nhân loại. Vậy trước hết xin chỉ ra  xu thế chung của thế giới sau khi Liên xô và  các nước Đông Âu tự sụp đổ trong khi đang xây dựng chế độ xã hội chủ nghĩa là xu thế nào. Có phải là xu thế XHCN hay không   Kỷ nguyên mới của Việt Nam có phải là tiếp tục xây dựng XHCN mà ngay cả cố TBT Nguyễn Phú Trọng cũng  không biết đến bao giờ mới thấy được. Ông Trọng đã không thể  thấy. Đến đời cháu chắt của ông chắc cũng không thấy được.

 Cứ tạm tin là Mác nói đúng thì CNXH chỉ có thể xuất hiện khi Chủ nghĩa tư bản đã phát triển đến mức cao nhất. Cho rằng có thể xây dựng CNXH từ một nước nông nghiệp lạc hậu, bỏ qua giai đoạn phát triển tư bản phải chăng là một sai lầm quá lớn của Lê nin.

2.4.2- Phân tich nội dung mục 2.3: Vì nền văn minh vững bền, tiến bộ cho toàn nhân loại”,  có các nội dung sau:

 

Một là hãy xem xét sự tôn trọng lẫn nhau. Quan trọng và có giá trị nhất là  tôn trọng sự bất đồng. Tôn trọng trong đối ngoại chủ yếu xảy ra khi hai nước có chế độ chính trị khác  nhau, Việt Nam theo cộng sản  còn Mỹ không hề  che dấu việc chống cộng. Họ chống cộng nhưng vẫn tôn trọng người tự chọn cho mình chủ nghĩa cộng sản để tôn thờ. Họ tôn trọng bạn hoàn toàn không có nghĩa họ công nhận bạn đúng hoặc tốt. Thí dụ cạnh nhà bạn có người bị bệnh AIDS. Trước đây bạn xa lánh vì sợ bị lây nhiễm, nay thấy không phải thế nên bạn đi lại, chơi với họ, tôn trọng và giúp đỡ  họ. Như vậy không có nghĩa bạn cho rằng họ là người tốt.

Về đối nội, sự tôn trọng chủ yếu xảy ra giữa những người có chính kiến, có tôn giáo khác nhau. Từ trước đến nay Đảng cộng sản VN chủ trương độc quyền tư tưởng và chân lý, không chấp nhận và thẳng tay triệt hạ mọi bất đồng. Phải chăng từ bây giờ, trong kỷ nguyên mới, ngài Tô Lâm đã nhận ra cần tôn trọng sự khác biệt vốn là bản chất của Tự nhiên, của Nhân loại, của Vũ trụ, mà chấp nhận phản biện của những người vốn yêu nước thương dân nhưng theo cách khác, có vài suy nghĩ khác.

 

Hai là coi trọng và thúc đẩy văn hóa đối thoại. Việc này, từ năm 2018 ông trưởng ban tuyên giáo của Đảng đã đề ra, rất được hưởng ứng, nhưng chỉ nói mà không làm. Bây giờ, với kỷ nguyên mới, phải chăng ngài Tổng bí thư thấy rõ việc này là quan trọng cho đối ngoại. Thế còn đối nội, liệu nó có được xem là cần thiết hay không. Anh em, cha con trong một nhà không thể đối thoại, không chịu đối thoại với nhau mà lại đề cao việc đối thoại với láng giềng thì làm sao người ta có thể chấp nhận, làm sao có thể làm cho người ta tin được.

 

Ba là trách nhiệm với cộng đồng quốc tế. Trách nhiệm này là cần, nhưng cần hơn là trách nhiệm với cộng đồng trong nước. Trách nhiệm này có hai phần chính, về đời sống vật chất và  đời sống tinh thần.

Trong thời gian qua Đảng có  chăm lo đến đời sông vật chất, còn về đời sống tinh thần, mà quan trọng nhất là sự tự do tư tưởng, tự do ngôn luận, tự do lập hội sẽ được xem xét như thế nào. Liệu trong kỷ nguyên mới, lãnh đạo của Đảng sẽ có trách nhiệm gì.

 

Bốn là luôn đặt nhân dân ở vị trí trung tâm  với việc xây dựng nhà nước của dân, do dân, vì dân. Có lẽ đây là điều mà ngài Tô Lâm đặc biệt quan tâm. Đã từ lâu Đảng vẫn thường nói và viết như vậy. Nhưng nói chỉ để mà nói. Thực chất thì Đảng đã cướp quyền của dân. Phải chăng trong kỷ nguyên mới Ngài Tô Lâm sẽ tìm cách trả quyền lại cho dân một cách dần dần, bằng con đường hòa bình dân chủ hóa đất nước, bằng cách để cho dân có được cuộc bầu cử Quộc hội thật sự dân chủ.

 

Năm là đoàn kết, gác lại quá khứ, hướng tới tương lai.

 Quá khứ thuộc lịch sử. Vậy có nhất thiết phải gác lại toàn bộ lich sử không. Tôi cho là không. Chỉ nên và cần gác lại quá khứ sai lầm, tạo ra đau khổ và thù hận. Nói gác lại quá khứ là cách nói vắn tắt. Đối ngoại cần gác lại quá khứ về chiến tranh, về hận thù giữa hai nước. Còn đối nội cần gác lại những sai lầm. Trong quá khứ đảng Cộng sản  tuy đã có một số thành tích, nhưng cũng đã phạm phai một số sai lầm. Những sai lầm đã rõ ràng như  sự tàn bạo trong cải cách ruộng đất, sự giáo điều trong hợp tác hóa nông nghiệp và cải  tạo  công thương nghiệp, sự cấm đóan phát triển kinh tế tư nhân v.v… Bây giờ, trong kỷ nguyên mới. liệu có cần nhìn thẳng vào sự thật để tìm ra thêm một số sai lầm cơ bản về đường lối, về phương pháp làm cách mạng vô sản hay không. Quan trọng nhất là đường lối, là chủ thuyết. Liệu đường lối và chủ thuyết mà Đảng đã chọn để lãnh đạo dân tộc đã thật sự hòa nhập với sự phát triển của xã hội văn minh hay chưa, đã là tối ưu cho dân tộc hay chưa.

Ngài Tổng bí thư  nhấn mạnh đến “kết tinh truyền thống nhân văn của dân tộc VN”. Phải chăng sự kết tinh đó thể hiện bởi câu “Việc nhân nghĩa cốt ở yên dân” như đã được viết trong Bình Ngô đại cáo. Vậy làm sao để được yên dân thì phải suy nghĩ nghiêm túc.

 

3-Vài lời đề nghị

Gần đây tôi đã viết và công bố bài “Góp ý kiến vào việc chuẩn bị văn kiện cho đại hội lần thứ 14 của đảng Cộng sản Việt Nam. Dưới đây xin nhắc lại các ý kiến chính và có mở rộng.

3.1-Cần củng cố lòng tin

Lòng tin của dân là rất quan trọng. Mất lòng tin là mất tất cả. Điều mà lãnh đạo Đảng lo lắng là để mất sự lãnh đạo toàn diện nên chưa mặn mà với dân chủ hóa. Nhưng theo như nghiên cứu của ông Nguyễn Quang A  và thực tế đã xảy ra ở một số nước như Mông Cổ, Ba Lan, Hungari, Đài Loan, Hàn Quốc, Singapore thì dân chủ hóa vẫn có thể bảo đảm cho sự cầm quyền của một đảng khi đảng đó chiếm được lòng tin của dân. Một số nước do đảng Cộng sản lãnh đạo trước đây, sau khi dân chủ hóa đã có vài đảng viên được bầu làm tổng thống và nhiều đảng viên được bầu vào Quộc hội, đảng Cộng sản trở thành đảng cầm quyền từng thời gian. Còn ở Singapore đảng Hành động nhân dân vẫn liên tục cầm quyền từ khi lập quốc, năm 1960 đến giở.

Hiện nay lòng tin của dân vào Đảng rất thấp, đó là một thực tế mà Đảng không muốn chút nào. Những biện pháp mà tuyên giáo cố sức thực hiện đã tỏ ra không có hiệu quả. Để củng cố lòng tin của dân các nhà lý luận của Đảng thừa biết cách làm, chỉ là họ không muốn làm một cách đường hoàng mà chỉ thích dùng thủ đoạn.

3.2-Nhìn thẳng vào sự thật

Thứ hai, xin ngài Tổng bí thư và toàn Ban Chấp hành trung ương cũng như toàn bộ đảng viên nhìn thẳng vào sự thật, chỉ nói sự thật và phải có hành động đi kèm và đúng như lời nói. Đại hội 6 có được đổi mới để cứu dân tộc thoát khỏi bế tắc chính là nhờ đã dám mạnh dạn nhìn thẳng vào sự thật.

Nhưng nói thì dễ, làm được lại  khó. Khó nhất là bị  vướng vào thói quen “Sức ỳ tâm lý”. Toàn đảng, toàn dân đã nghe rất quen tai rằng Đảng luôn sảng suốt, rằng dưới sự lãnh đạo của Đảng, nhân dân giành hết thắng lợi vĩ đại này đến thẳng lợi vĩ đại khác. Bây giờ nói hơi khác đi, nhiều người không chịu được. Họ không hiểu rằng nghe lời khen thì sướng lỗ tai nhưng không có ích gì, nghe được lời chê đúng mới thực sự có ích.

Tôi đã xem tương đối kỹ nhiều báo cáo chính trị trong những đại hội Đảng gần đây và nhận ra rằng phần tình hình của báo cáo chỉ mới trình bày một phần sự thật. Mà một phần bánh mì vẫn là bánh mì, còn một phần sự thật nhiều khi là dối trá. Tuy vậy khi người ta cố tình chỉ trình bày một phần sự thật nhằm một mục đích nào đó thì có thể chắc chắn đó là dối trá.

Để tự nhìn ra sự thật có thể khó, phải tiến hành nghiên cứu khách quan, nhưng để biết được sự thật lại tương đối dễ vì có nhận xét rằng không gì dễ hơn là nói  và nghe sự thật. Vấn đề quan trọng là lãnh đạo có muốn nghe hay không mà thôi. Nếu muốn nghe chỉ cần cho thực thi quyền của người dân đã viết rõ trong Hiến pháp. Đó là quyền tự do ngôn luận và tổ chức những buổi đối thoại với một số trí thức phản biện.

3.3-Phải thấy rõ tình hình đã thay đổi cơ bản

Đảng Cộng sản được lập ra là một đảng cách mạng mà nhiệm vụ, mục đích chủ yếu  trước mắt là giành chính quyền. Việc đó đã thực hiện xong. Bây giờ đảng trở thành đảng cầm quyền để lãnh đạo việc xây dựng đất nước. Nhiệm vụ đã thay đổi thì đảng phải tự thay đổi theo để phù hợp với nhiệm vụ mới, nghĩa là phải thay đổi chính cương, điều lệ, tố chức và phương pháp công tác.

Được biết trong kỳ họp lần thứ mười 13 của BCHTW nhiệm kỳ 13, ngài Tổng bí thư có đưa dự kiến đổi mới điều lệ nhưng không được thông qua. Đó chỉ là sự chưa thành công chứ chưa phải thất bại như một số người đánh giá. Vì còn có đại hội. Tổng bí thư có thể đưa việc sửa đổi điều lệ ra đại hội. Khi được chấp nhận thì tổ chức soạn thảo và thông qua ở một đại hội bất thường sau đó. Nếu chuẩn bị kịp thì có thể tổ chức một nhóm nghiên cứu chuyên đề và có thể thông qua những văn khiện cần thiết ở ngay đại hội 14.

Hiện nay đảng cộng sản  VN  chủ yếu là một đảng cầm quyền. Nguyên là một đảng cách mạng phản đế nên Đảng còn có ít kinh nghiệm trong cầm quyền. Đảng rất nên tìm cách tham khảo, rút kinh nghiệm của đảng cầm quyền thành công nhất thế giới là đảng Hành động nhân dân của Singapore.

3.4- Phải tránh được vô minh

Vô minh là sự đánh giá sai sự thật, nhầm lần về bản chất. Hiện nay ở VN có một nhận thức vô minh nhưng được lan truyền rộng rãi và bám rễ chắc chắn vào rất nhiều người, ở mọi trình độ. Đó là sự nhầm lẫn giữa mục đích cơ bản và phương tiện để đạt mục đích đó. Mục đich cơ bản phải được xác định thật chính xác và phải kiên trì thực hiện cho bằng được. Phương tiện, nhiều khi cũng đóng vai trò mục đích, nhưng chỉ là mục đích tạm thời vì có đạt  được nó mới có điều kiện thuận lợi phấn đấu cho mục đích cơ bản, nhưng trong lâu dài thì nó chỉ là phương tiện.

Phương tiện có thể thay đổi, không nhất thiết phải kiên trì. Người ta, thường sử dụng quen một phương tiện nào đó. Khi xuất hiện một phương tiện mới, có hiệu quả cao hơn thì  người khôn ngoan biết dùng nó để thay thế phương tiện cũ, hoặc khi có đồng thời nhiều phương tiện khác nhau thì chọn phương tiện có hiệu quả cao nhất.

Mục đích cơ bản của Đảng gồm trong ba cụm từ : Xã hội Hòa bình, Dân quyền Tự do. Dân sinh Hạnh phúc. Ngoài ra thì tất cả những thứ còn lại như độc lập, thống nhất, giàu mạnh, chủ nghĩa xã hội, chủ thuyết Mác Lê, kinh tế tư nhân hay tập thể, độc tài toàn trị hay dân chủ đa nguyên, giáo dục nhồi sọ hay khai phóng, đạo Thiên chúa,  đạo Phật hay đạo Hồi, thi đua yêu nước hay cạnh tranh v.v… Tất cả về lâu dài chỉ là phương tiện. Chọn được một phương tiện (thí dụ thi đua, mô hình XHCN),  đã theo một thời gian, hơi quen rồi quyết tâm kiên trì chúng mà không chịu đổi mới khi biết nhiều người đã từ bỏ nó là rất vô minh, rất bảo thủ, có tác dụng xấu, kìm hãm xã hội.

 

3.5-Lời cuối

Những điều trên đây được trình bày với hy vọng ngài Tổng bí thư thực tâm muốn cải cách về chính trị, mà trước hết là dân chủ hóa đất nước. Còn nếu như ngài chỉ là một người mà việc làm  không đi đôi với lời nói như một số người nghi ngờ thì rồi sự sụp đổ của Đảng trong tủi nhục sẽ không tránh khỏi khi mà lực lượng vũ trang của Đảng phân hóa, có một số đứng về phìa nhân dân và số đông không chịu tuân lệnh của Đảng để bắn vào những người tay không, trong đó có cha mẹ, anh em bạn bè, đồng bào của họ, giống như những gì đã xảy ra ở nước Rumani trước đây.

Nhưng khi ngài Tô Lâm thực tâm muốn cải cách chính trị để xây dựng một đảnng vững mạnh  và “Con đường phát triển của Việt Nam không thể tách rời xu thế chung của thế giới và nền văn minh nhân loại”,  thì những điều trên đây cũng chỉ mới là một vài điều kiện cần. Để thực thi  được còn phải có thêm điều kiện đủ, là sự ủng hộ của đại đa số đại biểu dự đại hội 14. Làm sao để có được sự ủng hộ này thì chắc ngài Tổng bí thư biết rõ. Chỉ e ngại, lỡ ra ngài không nhận được sự ủng hộ ấy. Lúc này đành phải chọn giải  pháp tình thế, theo cách Lê nin đã dùng để thành lập đảng Bôn sê vich ở đại hội lần hai, năm 1903 của đảng Lao động dân chủ xã hội Nga. Đảng Bôn sê vích sau đổi tên thành đảng Cộng sản Nga.

 

(1)- https://tuoitre.vn/toan-van-phat-bieu-chinh-sach-cua-tong-bi-thu-chu-tich-nuoc-to-lam-tai-dai-hoc-columbia-202409241044401.htm

 

Tổng bí thư: TÔ LÂM

 

 

 

 

 

 

 

Thứ Hai, 19 tháng 5, 2025

Hội nhập: Hành trình tái tạo nội lực dân tộc để vươn ra thế giới

 Cú sốc áp thuế 46% mang tính địa chấn biết đâu mở ra cơ hội để định nghĩa lại vai trò của Việt Nam trên trường quốc tế? Tuy nhiên, nó cũng đặt ra vấn đề nan giải: Làm thế nào để kiến tạo một nội lực dân tộc thực sự bền vững?

 

 

I. Tín hiệu chuyển biến trong tư duy hội nhập

 

Bài viết của Tổng Bí thư Tô Lâm đăng trên các phương tiện truyền thông trên cả nước ngày 3/4/2025 (1) đã đánh dấu một bước ngoặt tư duy chính trị của Việt Nam khi đưa ra ba đột phá quan trọng:

 

Lần đầu tiên, “độc lập dân tộc gắn với chủ nghĩa xã hội” được thay thế bằng cách nhìn nhận hội nhập quốc tế là “đập cùng nhịp đập, thở cùng hơi thở của thời đại.” Sự chuyển mình này không chỉ là khẩu hiệu mà còn là lời nhắc nhở về việc cần thích nghi với dòng chảy toàn cầu hiện nay. Đây là thông điệp mới gửi ra thế giới rằng, Việt Nam nay đã giải phóng tầm nhìn, không còn giam hãm trong khuôn khổ ý thức hệ cũ nữa.

 

Cũng lần đầu tiên, chủ nghĩa Mác – Lênin không còn được tụng niệm như một “tư tưởng của thời đại” tại một văn bản chính thức của người đứng đầu Đảng Cộng sản. Đây là sự thay đổi mang tính ngầm định nhưng mạnh mẽ, cho thấy sự thừa nhận rằng lý luận cũ không còn là kim chỉ nam hữu hiệu cho thời đại số hóa, hội nhập và cạnh tranh toàn cầu.

 

Và thứ ba, Tổng Bí thư đã nâng hội nhập lên quy mô toàn diện, khẳng định rằng hội nhập không chỉ dừng lại ở kinh tế mà còn mở rộng sang cả chính trị, an ninh, văn hóa và xã hội. Điều này đòi hỏi một cấu trúc nội lực mạnh mẽ, không chỉ là sự phụ thuộc vào ngoại lực mà là sức mạnh nội sinh từ bên trong (2).

 

Những chuyển biến nói trên có lẽ không hoàn toàn ngẫu nhiên khi được công bố ngay vào thời điểm Tổng thống Trump vừa tuyên bố áp thuế 45% đối với Việt Nam. Cú sốc mang tính địa chấn ấy biết đâu mở ra cơ hội để định nghĩa lại vai trò của Việt Nam trên trường quốc tế? Tuy nhiên, nó cũng đặt ra vấn đề nan giải: Làm thế nào để kiến tạo được một nội lực dân tộc thực sự và bền vững?

 

II. Hồi cố lịch sử: Hành trình tìm lại nội lực dân tộc

 

Việt Nam có một quá khứ đầy bi tráng (3), nơi mà lịch sử hậu chiến không chỉ là câu chuyện về chiến tranh và tái thiết, mà còn là cuộc hành trình tìm lại tâm thức và sức sống của một quốc gia – dân tộc.

 

Những năm hậu 1975: Sau khi đất nước thống nhất về mặt lãnh thổ, xã hội vẫn bị chia rẽ trong tâm thức. Thay vì cùng nhau hòa giải và phát huy nội lực con người, thời kỳ này lại chứng kiến sự trừng phạt, lý lịch hoá và loại trừ nhiều tầng lớp – từ trí thức, doanh nhân đến cộng đồng người Việt hải ngoại (4).

 

Giai đoạn 1979–1989: Đây là mười năm gian khổ với các cuộc chiến tranh biên giới, can thiệp quân sự và các áp lực trước cấm vận quốc tế. Việt Nam sống theo khẩu hiệu tự cung tự cấp, đồng thời phải chịu đựng sự cô lập, khiến nội lực dân tộc ngày càng cạn kiệt (5).

 

Đổi Mới 1986: Với những bước đi dấn thân như “cởi trói cho nông dân, trí thức” và bước đầu thừa nhận kinh tế tư nhân, Việt Nam bắt đầu khơi dậy tiềm năng nội lực. Tuy nhiên, quá trình cải cách vẫn tồn tại nhiều hạn chế, chưa thể giải phóng toàn diện sức sống của cả hệ thống xã hội và thể chế (6).

 

Qua quá trình lâu dài ấy, bài học rút ra phải chăng: Chỉ khi nội lực được phát triển đồng bộ – từ giáo dục, thể chế, công nghệ đến tinh thần dân tộc – thì hội nhập mới có thể phát huy sức mạnh của một “chủ nghĩa trường tồn Việt” (7), thay vì đó chỉ là một chiếc áo khoác mới trên một cơ thể suy yếu.

 

III. Kinh nghiệm quốc tế: Nội lực mạnh là nền tảng của hội nhập thành công

 

Các quốc gia thành công trong hội nhập quốc tế như Liên bang Đức, Hàn Quốc và Singapore đều có chung một đặc điểm: họ đã xây dựng nền tảng nội lực vững chắc trước khi bước vào cuộc đua toàn cầu (8).

 

Hàn Quốc: Sau chiến tranh, quốc gia này đầu tư mạnh vào giáo dục, pháp quyền và công nghệ nội sinh, giúp họ không chỉ hồi phục mà còn vươn lên dẫn đầu khu vực.

 

Liên bang Đức: Bằng việc tập trung vào hòa giải dân tộc và tái cấu trúc thể chế sau Thế chiến và Chiến tranh Lạnh, Đức đã khẳng định sức mạnh nội lực để xây dựng lại đất nước.

 

Singapore: Một đảo quốc nhỏ nhờ kỷ luật, minh bạch, pháp trị và phát triển nguồn nhân lực đã trở thành một trung tâm kinh tế và tài chính quốc tế.

 

Đối với Việt Nam, hiện tại vẫn còn tồn tại những hạn chế như cải cách thể chế nửa vời, nền giáo dục chưa phát triển toàn diện, và niềm tin xã hội bị lung lay. Nếu không có một nội lực mạnh mẽ, mọi khát vọng hội nhập sẽ chỉ là ảo ảnh, và Việt Nam sẽ mãi là “người làm thuê” của chuỗi cung ứng toàn cầu.

 

IV. Cú sốc từ thực tế: Thách thức đối với cả kinh tế lẫn chính trị

 

Ngày 3/4/2025, khi Tổng thống Mỹ Donald Trump tuyên bố áp thuế 46% đối với hàng xuất khẩu của Việt Nam, đây không chỉ là một đòn đánh thương mại mà còn là một cảnh báo chiến lược. Sự kiện này càng bộc lộ:

 

Lỗ hổng về nội lực kinh tế: Việt Nam vẫn còn lệ thuộc vào đàu tư trực tiếp của nước ngoài (FDI), gia công rẻ và những thị trường dễ tổn thương. Trong bối cảnh đó, mỗi cú sốc từ bên ngoài là một thử thách lớn đối với khả năng tự vệ và tự cường của nền kinh tế quốc dân.

 

Sự lạc lõng về chính trị: Nếu cú sốc kinh tế đến từ thuế quan là một cảnh báo rõ ràng, thì sự lạc lõng về chính trị lại là một nguy cơ âm thầm, nhưng không kém phần cấp bách. Trong một thế giới đang tái định hình trật tự – nơi các quốc gia vừa cạnh tranh, vừa phải biết thích nghi linh hoạt – Việt Nam vẫn đang tự giam hãm bởi những mô hình tư duy cũ kỹ và cấu trúc quyền lực khép kín.

 

Xã hội dân sự đang bị triệt hạ khiến hệ thống chính trị hiện hành chưa có cơ chế hấp thụ phản biện, để lắng nghe được tiếng nói từ doanh nghiệp, trí thức, người lao động hay giới trẻ – những lực lượng thiết yếu cho bất kỳ tiến trình hội nhập bền vững nào. Thiếu vắng không gian chính trị linh hoạt, minh bạch và có khả năng điều chỉnh theo tín hiệu thời đại khiến Việt Nam ngày càng rơi vào thế bị động.

 

Bài toán cần giải quyết: Để không rơi vào tình trạng bị ép buộc theo các điều kiện từ bên ngoài, quốc gia cần phải xây dựng một hệ thống kinh tế – chính trị tự chủ với sức mạnh nội tại. Phải gấp rút nâng cao năng lực khoa học – công nghệ, củng cố doanh nghiệp nội địa và tái cấu trúc ngành công nghiệp theo hướng tự chủ (9).

 

Hơn thế, trong khi các quốc gia thành công đang tái định nghĩa vai trò nhà nước – từ một “người kiểm soát” sang một “người kiến tạo” – thì Việt Nam vẫn loay hoay trong mô hình hành chính – mệnh lệnh, nơi mà quyền lực đôi khi vận hành không dựa trên năng lực và phẩm chất các nguồn vốn xã hội.

 

Hội nhập, trong nghĩa sâu nhất, không chỉ là bước ra thế giới – mà còn là dám “cởi trói” chính mình. Nếu thiếu một cuộc cải cách chính trị sâu sắc để giải phóng năng lượng xã hội, thì dù có đổi mới kinh tế đến đâu, Việt Nam cũng khó lòng thoát khỏi tình trạng vừa lạc hậu vừa dễ tổn thương trong cuộc chơi toàn cầu.

 

 

V. Tái định nghĩa hội nhập: Đập cùng nhịp thời đại bằng trái tim của chính mình

 

Tổng Bí thư Tô Lâm đã khẳng định rằng hội nhập không chỉ là sự tiếp nhận của những xu hướng ngoại lai mà là sự đồng bộ của cả nội lực dân tộc và tinh thần tự cường.

 

Vấn đề cốt lõi đặt ra là:

 

Chúng ta đang đập cùng nhịp đập của thời đại, hay chỉ đơn thuần chạy theo những định hướng bên ngoài? Nếu Việt Nam chỉ xuất khẩu khát vọng mà không phát huy sức mạnh từ bên trong, hội nhập sẽ biến thành một gánh nặng, làm mòn đi giá trị và bản sắc dân tộc.

 

Để hội nhập trở nên thực sự bền vững, cần có:

 

Một thể chế chính trị phải biết phụng sự nhân dân: Từ nông dân, công nhân, doanh nhân đến trí thức – tất cả là những quốc dân cần được tôn trọng và được trao thực sự các quyền Hiến định (Chứ không chỉ trên giấy).

 

Sự đồng lòng của toàn xã hội: Một thế hệ tự giác, chủ động gánh vác trách nhiệm dân tộc, với tinh thần phản biện sáng tạo và không ngại thay đổi.

 

Một chiến lược nội lực hóa tổng thể: Bắt đầu từ giáo dục, thể chế, công nghệ đến văn hóa, nhằm tạo dựng một nền tảng vững chắc cho mọi hình thức hội nhập.

 

Kết luận: Hội nhập là hành trình tự cứu rỗi để tự cường

 

Việt Nam đang đứng trước ngã ba của thời đại: một bên là thế giới rộng mở với vô vàn cơ hội, một bên là thực tại với những giới hạn nội tại không thể phủ nhận.

 

Nếu không tỉnh thức và xây dựng nội lực từ bên trong, hội nhập sẽ chỉ là một lớp vỏ hào nhoáng, che đậy sự suy yếu từ nội tại – dẫn đến tình trạng lệ thuộc và thiếu tự chủ.

 

Chính vì vậy, hội nhập không chỉ là khẩu hiệu, mà là bài toán nội lực cần được giải quyết từ gốc rễ.

 

Chỉ khi mỗi cá nhân, doanh nghiệp, tổ chức và cả nhà nước đều ý thức và hành động đồng bộ, Việt Nam mới có thể “đập cùng nhịp đập của thời đại” bằng trái tim và sức mạnh của chính mình – trở thành một quốc gia độc lập, tự cường và bền đỗ trên bản đồ hội nhập toàn cầu (10).

 

-----------------------

 

Tham khảo thêm:

 

(1) https://vov.vn/ky-nguyen-vuon-minh/tieu-diem/bai-viet-cua-tong-bi-thu-to-lam-vuon-minh-trong-hoi-nhap-quoc-te-post1189266.vov

 

(2) https://infographics.vn/bai-viet-vuon-minh-trong-hoi-nhap-quoc-te-cua-tong-bi-thu-to-lam-cac-huong-trien-khai-hoi-nhap-quoc-te-trong-giai-doan-cach-mang-hien-nay/215128.vna

 

(3) https://daibieunhandan.vn/mot-chuong-bi-trang-cua-dan-toc-post192898.html

 

(4) https://www.luatkhoa.com/2024/05/giua-thoi-loan-doc-ben-thang-cuoc-cua-huy-duc/

 

(5)http://vietnamthuquan.eu/truyen/truyen.aspx?tid=2qtqv3m3237nvn2nvnnn1n31n343tq83a3q3m3237nvn&AspxAutoDetectCookieSupport=1

 

(6)https://vi.wikipedia.org/wiki/B%C3%AAn_th%E1%BA%AFng_cu%E1%BB%99c

 

(7) https://www.voatiengviet.com/a/co-mot-chu-nghia-truong-ton-viet-nam/7961206.html

 

(8) https://www.luatkhoa.com/2016/11/sach-dan-chu-va-dan-chu-hoa-nhan-thuc-can-thiet-ve-dan-chu/

 

(9) https://www.facebook.com/share/p/14zFfHkEAp/ [Bài viết của Trần Huỳnh Duy Thức]

 

(10) https://www.voatiengviet.com/a/lam-the-nao-de-vuon-minh-phan-3-to-lam-se-khoi-duoc-que-can-tam-nhin-triet-ly-thoi-dai-so-/8001032.html

 

Tiến Sỹ: Đinh Hoàng Thắng

Đã Đến Lúc Hòa Giải Dân Tộc

 Ngày 30 tháng 4 năm 2025 đánh dấu 50 năm kể từ khi chiến tranh Việt Nam kết thúc, khi tiếng súng ngưng nổ, khi đất nước liền một dải chữ S từ Bắc chí Nam.  

 

Nhưng nửa thế kỷ trôi qua, sự thống nhất trên bản đồ chưa đồng nghĩa với sự thống nhất trong lòng người Việt.  

 

Vết cắt lịch sử vẫn chưa thực sự liền sẹo; dòng máu chảy chung của dân tộc vẫn chưa thể hòa cùng nhịp đập giữa những người con mang ký ức, lý tưởng và niềm tin từng khác biệt. 

 

Một dân tộc trưởng thành không chỉ vì chiến thắng trong quá khứ, mà còn vì khả năng vượt lên quá khứ.  

 

Sự cao thượng chính trị không thể hiện ở chỗ ai đã đúng, ai đã sai trong cuộc chiến năm xưa, mà ở chỗ ai dám đưa tay ra trước trong thời bình, để kiến tạo một tương lai chung cho tất cả. 

 

Tổng Bí thư Tô Lâm – người đang nắm giữ cương vị quyền lực cao nhất đất nước – tuyên bố rằng ông sẽ dẫn dắt Việt Nam bước vào một “kỷ nguyên mới”.  

 

Nhưng liệu kỷ nguyên mới ấy sẽ được định nghĩa như thế nào? Bằng tăng trưởng GDP? Bằng đô thị hóa? Hay bằng những dự án mang tính biểu tượng?  

 

Tất cả những điều đó đều quan trọng. Nhưng không gì có thể thay thế cho sự hòa hợp tinh thần dân tộc, cho khả năng sống chung giữa những người Việt còn đang ly tán trong lòng nhau – vì chiến tranh, vì ý thức hệ, vì bất đồng tư tưởng. 

 

Hòa giải là điều kiện để trở thành quốc dân của một đất nước văn minh 

 

Từ góc nhìn triết học chính trị, hòa giải không đơn thuần là một tiến trình kỹ thuật chính trị hay một “chính sách mềm” trong sách lược cầm quyền.  

 

Hòa giải là nền tảng để khôi phục phẩm giá của tất cả các bên đã trải qua đau thương.  

 

Không có hòa giải, sẽ không có công lý thực sự – vì công lý không phải là sự áp đặt một chân lý, mà là khả năng cùng nhau tồn tại trong sự khác biệt mà không loại trừ lẫn nhau.  

 

Tư tưởng của nhà triết học người Đức Jürgen Habermas từng khẳng định: một nền dân chủ đúng nghĩa phải mở ra không gian đối thoại tự do – nơi mỗi con người đều được lắng nghe như một chủ thể đạo đức và chính trị.  

 

Ở đó, lý trí công cộng được xây dựng trên sự thừa nhận rằng: không ai độc quyền chân lý. Chỉ có qua đối thoại – không phải bằng súng đạn hay nhà tù – ta mới có thể kiến tạo được đồng thuận xã hội.  

 

Thế nhưng, cho đến hôm nay, Việt Nam vẫn chưa có một tiến trình hòa giải dân tộc đúng nghĩa.  

 

Trong khi Đảng Cộng sản Việt Nam đã thiết lập quan hệ hữu nghị và chiến lược toàn diện với những cựu thù như Mỹ, Pháp, Nhật Bản hay Trung Quốc, thì những người từng là đồng bào – dù ở bên kia chiến tuyến hay chỉ đơn thuần mang lý tưởng khác – vẫn chưa được đối xử như những người con chính danh của Tổ quốc. 

 

Hòa giải không phải là quên lãng 

 

Có người sợ rằng hòa giải sẽ dẫn đến lãng quên lịch sử, làm lu mờ “chính nghĩa cách mạng.”  

 

Nhưng hòa giải không phải là sự xóa bỏ ký ức.  

 

Đó là hành động chủ động thừa nhận quá khứ – trong tất cả sự phức tạp, đau đớn, và mâu thuẫn của nó – để cùng nhau bước tới.  

 

Hòa giải không yêu cầu một bên phải xin lỗi, một bên phải tha thứ.  

 

Nó chỉ yêu cầu chúng ta chấp nhận rằng: những con người có thể khác nhau về lý tưởng, về kinh nghiệm lịch sử, nhưng vẫn cùng thuộc về một cộng đồng dân tộc – và vì thế, phải có khả năng sống chung. 

 

Tư tưởng của triết gia người Pháp Paul Ricœur nhấn mạnh vai trò của ký ức trong việc xây dựng bản sắc và đạo đức cộng đồng.  

 

Ông nói đến “ký ức công bằng” – không phải là ký ức chỉ kể về nỗi đau của mình, mà là ký ức biết lắng nghe nỗi đau của người khác.  

 

Nếu ký ức bị thao túng bởi quyền lực chính trị, nó trở thành công cụ của sự khép kín và đối đầu.  

 

Nhưng nếu ký ức được mở ra bởi tinh thần nhân văn, nó trở thành nhịp cầu nối giữa các linh hồn từng bị tổn thương. 

 

Tổ quốc là không gian chung, không thể độc quyền 

 

Chúng ta không thể nói về lòng yêu nước nếu chúng ta không thừa nhận quyền tồn tại của những quan điểm khác nhau trong một không gian chính trị.  

 

Một nửa dân tộc không thể bị buộc phải im lặng vì quá khứ của họ “sai lý lịch,” vì tư tưởng của họ “trái chiều,” hay vì họ dám nói một điều gì đó khác biệt.  

 

Nếu chính quyền tiếp tục dùng luật pháp để bịt miệng bất đồng, tiếp tục xem sự đa nguyên là mối đe dọa, thì không thể nào có được một nền dân chủ thực chất.  

 

Chủ nghĩa nhân văn chính trị – vốn đặt con người làm trung tâm – yêu cầu chúng ta phải vượt qua thói quen phân chia “ta và địch,” “chính thống và phản động.”  

 

Đã đến lúc người Việt – từ trong nước đến hải ngoại, từ quan chức đến dân thường, từ đảng viên đến trí thức bất đồng – được nhìn nhận như những quốc dân bình đẳng, có quyền mơ ước, cất tiếng nói, và góp phần định hình tương lai quốc gia.  

 

Tổ quốc không phải là tài sản riêng của bất kỳ ai, dù đó là một đảng phái, một tổ chức hay một tầng lớp.  

 

Tổ quốc là không gian thiêng liêng mà tất cả chúng ta cùng chia sẻ – không phải vì cùng một quá khứ, mà vì cùng một tương lai. 

 

Hòa giải là bản lĩnh của kẻ mạnh 

 

Người yếu thì sợ khác biệt. Người mạnh thì đủ tự tin để chung sống với nó. Một nhà lãnh đạo thực sự vĩ đại không phải là người củng cố quyền lực bằng nỗi sợ hãi, mà là người dám trao quyền bằng niềm tin.  

 

Lịch sử hiện đại đã chứng minh: những quốc gia có thể vượt qua chia rẽ sau nội chiến hay độc tài – như Nam Phi hậu apartheid, Tây Ban Nha hậu Franco, hoặc Chile hậu Pinochet – đều có một điểm chung: họ đã đặt hòa giải và đối thoại lên trên thù hận và báo thù.  

 

Nelson Mandela không thể trở thành huyền thoại nếu ông không bắt tay với những người từng giam cầm ông 27 năm.  

 

Và Chile không thể trở thành nền dân chủ hàng đầu Nam Mỹ nếu không dám đối diện với quá khứ đầy máu và nước mắt.  

 

Việt Nam cũng có thể bước vào trang sử mới – nếu có một người dám khởi đầu.  

 

Với vị trí hiện tại, Tổng Bí thư Tô Lâm có đủ thẩm quyền và cơ hội để làm điều đó.  

 

Không phải bằng khẩu hiệu, mà bằng hành động cụ thể: khởi động một tiến trình hòa giải dân tộc, trả lại quyền công dân và tiếng nói cho những ai từng bị loại trừ, và cam kết xây dựng một không gian chính trị nơi mọi người Việt – dù khác nhau – đều có thể cùng tồn tại trong tôn trọng và tình thương. 

 

Hòa giải không chờ đợi! 

 

Hòa giải không thể chờ đến khi mọi vết thương lành. Chính hòa giải là thuốc chữa lành. Và không thể có hòa giải nếu chỉ đòi hỏi sự “hối cải” từ phía những người bị xem là “lầm đường lạc lối.”  

 

Hòa giải đòi hỏi chính quyền phải mở lòng trước, dừng mọi hành vi trấn áp ôn hòa, và khẳng định rằng bất đồng chính kiến là một phần tất yếu – và lành mạnh – của một quốc gia trưởng thành. 

 

Nếu ngày 30 tháng 4 năm 1975 là ngày chiến tranh kết thúc, thì ngày 30 tháng 4 năm 2025 có thể là ngày hòa giải bắt đầu.  

 

Chúng ta không thể làm sống lại những người đã chết, nhưng chúng ta có thể làm cho những người đang sống tìm lại nhau. 

 

Tương lai không thuộc về những người giữ khư khư một quá khứ đóng kín.  

 

Tương lai thuộc về những người dám mở cửa tâm hồn, để lịch sử không còn là gánh nặng – mà trở thành điểm tựa.  

 

Và lịch sử – như thường lệ – sẽ chỉ ghi tên những ai dám hành động. Nhưng không phải vì quyền lực, quyền lợi hay danh vọng, mà vì chính nghĩa, công lý và sự công bằng. 

Tác Giả: Vũ Đức Khanh 

April 22, 2025 


Thứ Ba, 24 tháng 12, 2024

Mừng Giáng Sinh 2024

Lập Quyền Dân xin kính chúc các đấng bề trên và toàn thể các tín hữu Ky tô giáo trong nước và nước ngoài Mùa Giáng sinh 2024 vui vẻ, bình an hạnh phúc.
"Vinh danh Thiên Chúa trên trời
Bình an dưới thế cho người an vui."

Nguyễn khắc Mai, những người yêu minh triết Ky tô giáo.

Thứ Sáu, 13 tháng 12, 2024

Tương lai của chính sách Hoa Kỳ tại Đông Nam Á

Xin chân thành cảm ơn Tiến sĩ Trần Quốc Hùng đã chia sẻ , và xin đặc biệt giới thiệu bài tham luận cực sâu sắc của Đại sứ Singapore Bilahari Kausikan được trình bày dưới dạng Bài giảng tưởng niệm Gaston Sigur tại Đại học George Washington, Washington, D.C., vào tháng 4 năm 2024. Phân tích hiện tình thế giới một cách độc đáo, Đại sứ Kausikan nhận định và khuyến cáo các nước Đông Nam Á phải đương đầu với cả Hoa Kỳ và Trung Quốc, và đối phó với cả hai là điều kiện cần thiết để tiếp tục duy trì sự thống nhất giữa các lợi ích an ninh của các nước ASEAN.

Bài giảng tưởng niệm Gaston Sigur năm 2024
Bởi Bilahari Kausikan
_________________________
  • Có một nhận thức khá lan rộng ở Đông Nam Á là Hoa Kỳ đang thua Trung Quốc ở Đông Nam Á.
    • Song, chúng ta phải đương đầu với cả Hoa Kỳ và Trung Quốc,
    • và đối phó với cả hai là điều kiện cần thiết để tiếp tục đảm bảo an ninh và lợi ích của các nước ĐNA.
  • Rủi ro chính của xung đột là thông qua một số tính toán sai lầm hoặc do một sự cố vượt khỏi tầm kiểm soát chứ không phải là một cuộc chiến tranh được thiết kế.
    • Khả năng chiến tranh được sử dụng như một công cụ chính sách ở Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương
    • như Nga đã làm với Ukraine là thấp.
  • Quan niệm cho rằng Hoa Kỳ là một thành phần không thể thay thế của bất kỳ sự cân bằng khu vực nào bắt đầu trở nên phổ biến
    • khi hầu hết các thành viên ASEAN đã làm những gì có thể để cải thiện mối quan hệ quốc phòng và an ninh của riêng họ với Hoa Kỳ.
    • Chỉ có Myanmar, Lào và Campuchia là ngoại lệ.
  • Thật khó để thấy ngoại giao Trung Quốc ở Đông Nam Á là một thành công vang dội. 
    • Trong thập kỷ qua,những lo lắng đã gia tăng, đặc biệt là ở vùng biển Đông Nam Á
    • do hành vi ngày càng quyết đoán, và đôi khi hoàn toàn hung hăng, của Bắc Kinh ở Biển Đông.
  • Mối tương quan trực tiếp giữa kinh tế và ảnh hưởng hoàn toàn bỏ qua những gì đã và vẫn là lực lượng mạnh nhất ở Đông Nam Á kể từ đầu thế kỷ 20: chủ nghĩa dân tộc.
    • Chủ nghĩa dân tộc đã định hình tất cả hệ thống chính trị Đông Nam Á theo con đường riêng biệt của họ.
  • Chủ nghĩa dân tộc nhấn mạnh một khía cạnh cơ bản nhưng thường bị bỏ qua trong quan hệ quốc tế giữa các quốc gia có chủ quyền:
    • ngay cả quốc gia yếu nhất trong hoàn cảnh tồi tệ nhất
    • cũng không bao giờ hoàn toàn không có quyền tự quyết.
  • Hoa Kỳ và Trung Quốc cạnh tranh trong một hệ thống duy nhất 
    • mà trong đó họ là những thành phần quan trọng nhất,được kết nối với nhau và với những thành phần khác
    • bằng một mạng lưới chuỗi cung ứng dày đặc và phức tạp, chưa từng có trước đây trong lịch sử thế giới.
  • Hoa Kỳ và Trung Quốc tìm cách giảm thiểu các điểm yếu của sự phụ thuộc lẫn nhau bằng cách cố gắng từ chối đối thủ của họ một số công nghệ, đa dạng hóa chuỗi cung ứng, hoặc bằng cách cố gắng trở nên tự lực hơn.
    • Nhưng họ không có khả năng thành công ngoại trừ một phần.
  • Trong sự phức tạp, có nhiều cơ hội hơn để thực hiện quyền tự quyết.
    • Các quốc gia Đông Nam Á sẽ nắm bắt những cơ hội đó theo lợi ích của họ và trong phạm vi khả năng của họ cho phép.
    • Đông Nam Á là một khu vực đa cực tự nhiên ở chỗ gần như luôn có nhiều hơn một thế lực bên ngoài hiện diện và cạnh tranh để giành ảnh hưởng.
  • Không muốn lựa chọn’ là một chiến lược năng động và chủ động.
    • Nó đòi hỏi sự cảnh giác liên tục, sự nhanh nhẹn, khả năng đánh giá tình hình lâm sàng
    • và tập trung cao độ vào lợi ích quốc gia của bạn.
  • Bất kể bạn đứng về phía nào của lập luận, điều thường bị bỏ qua là
    • ngay cả ở đỉnh cao, ‘Thế kỷ Hoa Kỳ’ chưa bao giờ không có sự phản đối.
    • Cạnh tranh giữa các quốc gia là một đặc điểm vốn có của các mối quan hệ quốc tế.
  • Mặc dù đã từng chiến đấu với Hoa Kỳ, nhưng sự ngờ vực trong lịch sử của Việt Nam đối với Trung Quốc - thể hiện rõ nhất ở Biển Đông:
    • đừng quên Trung Quốc đã cưỡng bức trục xuất quân đội Nam Việt Nam khỏi quần đảo Hoàng Sa ngay từ năm 1974
      • và chiếm giữ quần đảo đó trước thềm chiến thắng của Bắc Việt Nam -
      • đã khiến Hà Nội đầu tiên tìm cách thắt chặt quan hệ với Liên Xô và sau đó là Hoa Kỳ. 
    • Nhưng người Mỹ cũng nên nhớ rằng Trung Quốc và Việt Nam là hai trong số năm quốc gia duy nhất còn tồn tại theo chủ nghĩa Lênin do các đảng tiên phong lãnh đạo.
      • Bất kể bất đồng gay gắt và sự ngờ vực sâu sắc đối với Trung Quốc,
      • Hà Nội sẽ không làm gì với Hoa Kỳ hoặc bất kỳ cường quốc nào khác có thể gây nguy hiểm cho sự cai trị của một đảng tiên phong khác.
______________________________________________________________________________________________________________________________________
 
Tôi xin bắt đầu bằng một câu chuyện.
 
Vào cuối những năm 1980, rõ ràng là chính trị trong nước của Philippines sẽ buộc quân đội Hoa Kỳ phải rời khỏi Vịnh Subic và Sân bay Clark ở Philippines. Singapore, chưa bao giờ ngần ngại bày tỏ niềm tin của chúng tôi, rằng: Hoa Kỳ là một thành phần không thể thay thế của bất kỳ thế cân bằng quyền lực nào trong khu vực; nên đã quyết định rằng: đã đến lúc phải thực hiện
lời nói của mình và đề nghị quân đội Hoa Kỳ sử dụng một số cơ sở của chúng tôi.

Những ai đã đến thăm Vịnh Subic và Sân bay Clark đều biết rằng Singapore không thể thay thế về mặt quân sự – nếu bạn thả hòn đảo của chúng tôi xuống vịnh, chúng  sẽ không bao giờ tìm thấy được nữa. Tuy nhiên, chúng tôi tin tưởng việc duy trì một số hiện diện quân sự thực tế của Hoa Kỳ ở Đông Nam Á là rất quan trọng về cả mặt chính trị lẫn ngoại giao. Năm 1990, để thực hiện niềm tin này, Thủ tướng Lý Quang Diệu khi đó đã ký một Biên bản ghi nhớ với Phó Tổng thống Dan Quayle để cho phép Hoa Kỳ
tiếp cận các cơ sở quân sự của chúng tôi để vận chuyển và hậu cần.

Mọi thứ trở nên hỗn loạn.

Những người hàng xóm gần nhất của chúng tôi, Malaysia và Indonesia, đã phản ứng một cách cuồng loạn, như thể chúng tôi đã thông đồng với quỷ dữ để bắt cóc và bán đứa con đầu lòng của họ làm nô lệ. Đã có một làn sóng phản đối với mục đích rõ ràng là gây sức ép, buộc chúng tôi từ bỏ thỏa thuận cho phép quân đội Hoa Kỳ sử dụng các cơ sở của chúng tôi. Chúng tôi đã bỏ qua họ và tiếp tục tiến hành.

Chuyển tiếp đến năm 2019 khi chúng tôi gia hạn Biên bản ghi nhớ năm 1990 tại một buổi ký kết tại Liên hợp quốc ở New York giữa Thủ tướng Lý Hiển Long và Tổng thống khi đó Donald Trump.
 
Chuyện gì đã xảy ra?
 
Câu trả lời là không có gì cả. Không có gì xảy ra. Không có một lời phản đối nào từ những người hàng xóm của chúng tôi.
 
Cũng không có phản ứng nào vào năm 2005 khi Singapore và Hoa Kỳ ký một Thỏa thuận Khung Chiến lược, hoặc trong những năm tiếp  theo khi chúng tôi ký các thỏa thuận khác nâng cao hợp tác quốc phòng và an ninh của chúng tôi với Hoa Kỳ lên mức cao hơn đáng kể so với các điều khoản khiêm tốn của Biên bản ghi nhớ năm 1990. Ngày nay, mối quan hệ quốc phòng Hoa Kỳ-Singapore về một số khía cạnh có tính thực chất hơn mối quan hệ quốc phòng Hoa Kỳ với các đồng minh hiệp ước chính thức của mình ở Đông Nam Á, Thái Lan và Philippines.
 
Singapore không phải là đồng minh của Hoa Kỳ. Chúng tôi không mong đợi bạn đổ máu hoặc chi tiền để bảo vệ chúng tôi. Chúng tôi chỉ tự gọi mình là 'Đối tác Hợp tác An ninh Lớn' của Hoa Kỳ. Tuy nhiên, sự thay đổi thái độ của các nước láng giềng của chúng tôi từ năm 1990 đến 2019 và hiện tại đối với mối quan hệ quốc phòng của chúng tôi với Hoa Kỳ và sự hiện diện quân sự của Hoa Kỳ tại Đông Nam Á là điều đáng chú ý.
 
Tôi bắt đầu câu chuyện này vì có một nhận thức – tôi nghĩ là khá phổ biến trong một số nhóm – rằng Hoa Kỳ đang thua Trung Quốc ở Đông Nam Á. Từ năm 2019, Viện Nghiên cứu Đông Nam Á Yusof Ishak (ISEAS) tại Singapore đã công bố các cuộc khảo sát thường niên về ý kiến của giới tinh hoa tại 10 thành viên Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN) về nhiều vấn đề khác nhau. Cuộc khảo sát năm 2024 cho thấy nếu ASEAN buộc phải lựa chọn giữa Hoa Kỳ và Trung Quốc, 50,5% sẽ chọn Trung Quốc
trong khi 49,5% sẽ chọn Hoa Kỳ. Đây là lần đầu tiên kể từ khi câu hỏi được đặt ra vào năm 2020, Trung Quốc đã vượt qua Hoa Kỳ.
 
Tôi không muốn nói quá nhiều về một kết quả khảo sát. Biên độ rất mỏng và biến động so với năm trước là rất lớn. Năm 2023, chưa đến 40% (38,9%) nhìn thấy tương lai của ASEAN với Trung Quốc so với hơn 60% (61,1%) nhìn thấy tương lai của ASEAN với Hoa Kỳ. Cuộc khảo sát của năm tới có thể chứng kiến những biến động tiếp theo theo cả hai hướng tùy thuộc vào các sự kiện. Tôi nghĩ rằng sự bùng nổ của Chiến tranh Gaza gần như chắc chắn đã làm lệch hướng cuộc khảo sát năm 2024.
 
Nhưng các cuộc khảo sát của ISEAS cũng chỉ ra rằng mặc dù Trung Quốc được công nhận rộng rãi là có ảnh hưởng, Bắc Kinh vẫn không được tin tưởng. Trong cuộc khảo sát năm 2024, 43,9% đánh giá Trung Quốc là cường quốc chính trị và chiến lược có ảnh hưởng nhất và gần 60% (59,5%) đánh giá Trung Quốc là cường quốc kinh tế có ảnh hưởng nhất ở Đông Nam Á. Các con số tương đương đối với Hoa Kỳ là 25,8% và 14,3%.

Đồng thời, 67,4% số người được khảo sát cảm thấy lo lắng về ảnh hưởng kinh tế của Trung Quốc và thậm chí một tỷ lệ lớn hơn - 73,5% - lo lắng về ảnh hưởng chính trị và chiến lược của Trung Quốc. Hơn một nửa ASEAN (50,1%) ít hoặc không tin tưởng rằng Trung Quốc sẽ 'làm điều đúng đắn' để đóng góp cho hòa bình, an ninh, thịnh vượng và quản trị toàn cầu, trong khi chỉ có 24,8% tin tưởng hoặc rất tin tưởng rằng Trung Quốc sẽ làm như vậy. Con số tương đương đối với Hoa Kỳ là 37,6% và 42,4%.
 
Bất chấp sự tin tưởng lành mạnh vào việc Hoa Kỳ đang làm điều đúng đắn và chính quyền Biden tăng cường tham gia vào Đông Nam Á, sự tin tưởng vào Hoa Kỳ như một đối tác an ninh đáng tin cậy đã giảm xuống chỉ còn khoảng 35% (34,9%) khi coi Hoa Kỳ là đáng tin cậy so với 47,2% vào năm 2023. Tuy nhiên, xét về mức độ tin tưởng chung vào các cường quốc bên ngoài, vào năm 2024, 42,4% đã chọn Hoa Kỳ so với chỉ 24,8% chọn Trung Quốc. Nhưng nếu bạn tin tưởng Hoa Kỳ hơn Trung Quốc, tại sao lại chọn Trung Quốc thay vì Hoa Kỳ nếu bạn phải lựa chọn?

Nếu đến giờ bạn hoàn toàn bối rối về việc người dân Đông Nam Á thực sự nghĩ gì về Hoa Kỳ và Trung Quốc, thì tôi đã đạt được mục tiêu của mình.
 
Đây chỉ là một ví dụ về nhận thức không hoàn toàn giống nhau như bạn mong đợi. Nhật Bản luôn được đánh giá là cường quốc đáng tin cậy nhất nhưng cũng được coi là có ít ảnh hưởng. Điều này có lẽ nói lên nhiều điều về hiệu quả của ngoại giao công chúng Nhật Bản hơn bất kỳ điều gì khác. Một số thành viên ASEAN, đặc biệt là Việt Nam, Philippines kể từ khi Duterte làm tổng thống, Singapore và Indonesia, trên thực tế đã cải thiện hoặc ra tín hiệu về ý định cải thiện quan hệ quốc phòng với Tokyo. Tại sao
chúng ta lại muốn làm như vậy nếu chúng ta nghĩ rằng Nhật Bản không có ảnh hưởng? Chắc chắn điều đó hoàn toàn
không đúng đối với thương mại và đầu tư của Nhật Bản.
 
Điểm thực sự về các cuộc khảo sát ISEAS là thái độ đối với Hoa Kỳ và Trung Quốc và các cường quốc bên ngoài khác – cuộc khảo sát cũng bao gồm Nhật Bản, Hàn Quốc, Ấn Độ, Úc, New Zealand, Vương quốc Anh và EU – thường có vẻ không nhất quán. Điều này không phải vì chúng ta ở Đông Nam Á đặc biệt mơ hồ. Thái độ đối với các cường quốc bên ngoài rất phức tạp và mục đích của bài giảng hôm nay của tôi là giải thích một số sự phức tạp này. Hy vọng rằng, bằng cách làm như vậy, tôi sẽ làm sáng tỏ tương lai của chính sách Hoa Kỳ tại Đông Nam Á.
 
Tôi tập trung vào địa chính trị vì theo tôi, đây vẫn là cốt lõi của an ninh và ổn định ở Đông Nam Á và thực sự là ở Ấn Độ Dương - Thái Bình Dương nói chung. Nếu chúng ta không thể giải quyết được địa chính trị, các vấn đề khác có thể sẽ không được giải quyết một cách hiệu quả. Tôi sẽ để lại các vấn đề cụ thể như Đài Loan và các tranh chấp hàng hải ở Biển Đông và Biển Đông cho thời gian. Nhưng tôi xin nói trước rằng tôi nghĩ rủi ro chính của xung đột là do một số tính toán sai lầm hoặc do một sự cố
vượt khỏi tầm kiểm soát chứ không phải là một cuộc chiến tranh theo chủ đích. Khả năng chiến tranh được sử dụng như một
công cụ chính sách ở Ấn Độ Dương - Thái Bình Dương như Nga đã làm với Ukraine là rất thấp.
 
Sự thay đổi thái độ đối với sự hiện diện của quân đội Hoa Kỳ càng đáng chú ý nếu bạn nhớ rằng cả 10 thành viên của ASEAN, bao gồm cả các đồng minh hiệp ước của Hoa Kỳ là Philippines và Thái Lan, đều là thành viên của Phong trào Không liên kết (NAM). Từ năm 1971, khái niệm chính thức của ASEAN về an ninh khu vực đã được định nghĩa bởi mục tiêu biến Đông Nam Á thành Khu vực Hòa bình, Tự do và Trung lập (ZOPFAN). Là một bước tiến tới mục tiêu này, một hiệp ước ASEAN thiết lập Khu vực Không vũ khí Hạt nhân Đông Nam Á (SEANWFZ) đã được ký kết vào năm 1995 và có hiệu lực vào năm 1997.
 
Tất nhiên, ý tưởng không liên kết luôn được tôn vinh nhiều hơn bởi sự vi phạm của nó hơn là sự tuân thủ của nó, ngay cả bởi các thành viên sáng lập của NAM, những người luôn hướng đến lợi ích quốc gia của họ trước tiên. Điều này cũng đúng với ASEAN. Ở Đông Nam Á, an ninh luôn được định nghĩa và quản lý ở cấp quốc gia. Những gì ASEAN có thể hoặc không thể làm chỉ là sự bổ sung cho các chính sách quốc gia. Như đã xảy ra trong cuộc tranh cãi về Bản ghi nhớ năm 1990 của chúng tôi, các khái niệm an ninh khu vực của ASEAN như ZOPFAN và SEANWFZ cũng là những phương tiện thuận tiện để gây sức ép với Singapore. Đôi khi tôi nghĩ rằng đó là tiện ích thực sự của chúng đối với một số đồng nghiệp ASEAN của chúng tôi.
 
ZOPFAN và SEANWFZ là những ý tưởng không thực tế nhưng nguy hiểm dựa trên giả định rằng nếu các cường quốc bằng cách nào đó có thể - chưa bao giờ được giải thích - được `thuyết phục để kiềm chế không tham gia vào khu vực, thì sữa và mật ong sẽ hết . Nó đã bỏ qua thực tế bất tiện là hai cường quốc, Ấn Độ và Trung Quốc, nằm tiếp giáp với Đông Nam Á và vào năm 1971, nước sau đã tích cực hỗ trợ các cuộc nổi dậy của cộng sản ở tất cả 5 thành viên ASEAN ban đầu. Các nhà ngoại giao Singapore cùng thế hệ với tôi đã dành nhiều thời gian để moi ruột ZOPFAN và SEANWFZ về mọi mặt trước khi chúng tôi tham gia cùng họ.
 
Singapore luôn là một ngoại lệ vì chúng tôi luôn duy trì rằng sự ổn định ở Đông Nam Á chỉ có thể đạt được khi cân bằng và sự hiện diện quân sự nước ngoài - đầu tiên là Anh như một phần của mạng lưới đồng minh toàn cầu của Hoa Kỳ, và sau khi
Anh rút quân về phía đông Suez vào năm 1971, chỉ có Hoa Kỳ - là điều kiện cần thiết để duy trì sự cân bằng trong khu vực. Năm 1967, bộ trưởng ngoại giao đầu tiên của chúng tôi, S. Rajaratnam, gần như đã bỏ ra khỏi cuộc họp khi đang soạn thảo Tuyên bố Bangkok khi Indonesia và Malaysia nhấn mạnh rằng việc xóa bỏ các căn cứ nước ngoài là điều kiện để thành lập ASEAN. Cuối cùng, một sự thỏa hiệp đã được tìm thấy nhưng đó là một điều kiện khó khăn.
 
Sự hình thành của Diễn đàn khu vực ASEAN (ARF) năm 1994 và Hội nghị thượng đỉnh Đông Á (EAS) năm 2005 đã đánh dấu một sự thay đổi tinh tế, không được công bố nhưng đáng kể của khái niệm an ninh khu vực theo hướng cân bằng. Cả ARF và EAS đều mời tất cả các cường quốc tham gia thảo luận về an ninh khu vực thay vì cố gắng loại trừ họ. Tôi không nghĩ rằng ý nghĩa chính trị của những diễn đàn này - thường bị chế giễu là 'nơi nói chuyện phiếm' - về mặt này được hiểu đầy đủ. Quan niệm rằng Hoa Kỳ là một thành phần không thể thay thế của bất kỳ sự cân bằng khu vực nào bắt đầu trở nên phổ biến khi hầu hết các thành viên ASEAN đã làm mọi cách có thể để cải thiện quan hệ quốc phòng và an ninh của riêng họ với Hoa Kỳ. Chỉ có Myanmar, Lào và Campuchia là ngoại lệ.
 
Sự thay đổi thái độ vẫn chưa hoàn tất. ZOPFAN và SEANWFZ vẫn nằm trong sách. Một số bộ ngoại giao Đông Nam Á dường như vẫn còn gần như hoài niệm với những ý tưởng này, ngay cả khi các cơ sở quốc phòng của họ đã có động thái cải thiện mối quan hệ quốc phòng với Hoa Kỳ. Chính trị trong nước vẫn áp đặt những hạn chế đối với những gì một số thành viên ASEAN có thể làm - hoặc sẵn sàng thừa nhận đã làm - với Hoa Kỳ về quốc phòng và an ninh. Tôi không muốn đẩy vấn đề đi quá xa, nhưng về mặt này những gì Singapore có thể đóng góp để neo giữ công khai quân đội Hoa Kỳ ở Đông Nam Á hiện ít nhất được coi là một lợi ích công cộng của khu vực thay vì chỉ là thái độ lập dị của Singapore.
 
Tôi ước mình có thể tuyên bố sự thay đổi thái độ này là một chiến thắng cho ngoại giao của Singapore. Nhưng không phải vậy. Nó cũng không phải là chiến thắng cho ngoại giao Hoa Kỳ. Tôi nghĩ rằng nó chủ yếu là do những thất bại của ngoại giao Trung Quốc.
 
Tại một cuộc họp ARF năm 2010, Bộ trưởng Ngoại giao Trung Quốc khi đó là Dương Khiết Trì được cho là đã nói với các bộ trưởng ngoại giao ASEAN: “Trung Quốc là một nước lớn và các nước khác là những nước nhỏ, và đó chỉ là sự thật. Quy mô của Trung Quốc thực sự là 'chỉ là sự thật'. Nhưng tại sao lại nhấn mạnh một cách thô lỗ một sự thật hiển nhiên như vậy nếu không phải để cố gắng đe dọa? Ngoại giao không bao giờ chỉ là lịch sự, tử tế hay dễ chịu, nhưng việc dùng đến sự đe dọa công khai là dấu hiệu của ngoại giao kém.
 
Thật khó để coi ngoại giao của Trung Quốc ở Đông Nam Á là một thành công vang dội. Nhờ quy mô, sự gần gũi và sức nặng kinh tế của mình, Trung Quốc sẽ luôn có ảnh hưởng đáng kể ở Đông Nam Á, đặc biệt là ảnh hưởng kinh tế. Nhưng các nước lớn cũng có trách nhiệm trấn an các nước láng giềng nhỏ hơn. Đây là trách nhiệm mà Trung Quốc không chỉ không hoàn thành, mà như những phát biểu của Dương Khiết Trì đã chỉ ra, và các nhà ngoại giao Trung Quốc khác đã nhiều lần chứng minh bằng lời nói và hành động, ngoại giao Trung Quốc dường như thường xuyên đi chệch hướng để làm nổi bật nỗi lo lắng tự nhiên của các quốc gia nhỏ về một nước láng giềng lớn hơn.
 
Chính những yếu tố tạo nên ảnh hưởng của Trung Quốc – quy mô, sự gần gũi và sức nặng kinh tế – cũng đã gây ra những lo ngại ở Đông Nam Á. Mặc dù không thường xuyên được nêu rõ – chúng ta cũng không thường xuyên chỉ trích Hoa Kỳ – và bản chất cũng như cường độ của chúng khác nhau giữa các quốc gia, nhưng mối lo ngại về khía cạnh này hay khía cạnh khác trong hành vi của Trung Quốc tồn tại ở mọi thành viên ASEAN, bao gồm cả những quốc gia rất phụ thuộc vào Trung QuốcNgoại giao vụng về của Trung Quốc làm trầm trọng thêm những lo ngại này giải thích cho sự thay đổi về thái độ đối với sự hiện diện quân sự của Hoa Kỳ ở Đông Nam Á.

Trong thập kỷ qua, nỗi lo lắng đã gia tăng, đặc biệt là ở vùng biển Đông Nam Á do Bắc Kinh ngày càng quyết đoán, và đôi khi là hung hăng, hành vi ở Biển Đông. Nền tảng cho sự quyết đoán của Trung Quốc là câu chuyện về sự sỉ nhục, trẻ hóa và đạt được Giấc mơ Trung Hoa mà Đảng Cộng sản Trung Quốc (CCP) dưới thời Tập Cận Bình đã sử dụng kiên trì hơn bất kỳ người tiền nhiệm nào của mình để hợp pháp hóa quyền cai trị của mình.
 
Câu chuyện này đưa một yếu tố mạnh mẽ về quyền lợi vào chính sách đối ngoại của Trung Quốc và khiến cho việc thỏa hiệp ngoại giao trở nên khó khăn, ngoại trừ khi đó là một biện pháp chiến thuật. Rốt cuộc, nếu tôi chỉ đòi lại những gì hợp pháp của tôi đã bị lấy đi khi tôi yếu đuối, tại sao tôi phải thỏa hiệp? Tại sao tôi không nên quyết đoán khi đòi lại tài sản của mình? Người dân của tôi sẽ nghĩ gì về tôi nếu tôi không quyết đoán? ĐCSTQ không có gì đáng tin cậy để thay thế cho câu chuyện hợp pháp này nhưng đó là một trở ngại ngoại giao. Để giành được sự tôn trọng, một cường quốc cần nhiều hơn một lời phàn nàn về nạn nhân và yêu cầu bồi thường.

Là một chỉ báo khả thi về sự chấp nhận ngày càng tăng đối với sự cân bằng làm cơ sở cho sự ổn định, bất chấp sự thận trọng chính thức của hầu hết các chính phủ ASEAN đối với Bộ tứ, cuộc khảo sát của ISEAS cho thấy rằng vào năm 2023, hơn một nửa (50,4%) số người được khảo sát đồng ý hoặc hoàn toàn đồng ý rằng việc củng cố Bộ tứ là tích cực và an tâm cho Đông Nam Á, và vào năm 2024, 40,9% tin rằng hợp tác với Bộ tứ sẽ có lợi cho khu vực và 32,2% cho rằng nó có thể bổ sung cho những nỗ lực của chính ASEAN. Chỉ có một số ít người được khảo sát nghĩ rằng Bộ tứ sẽ khiêu khích Trung Quốc (7,4%), buộc ASEAN phải chọn phe (7,9%) hoặc đe dọa vị trí trung tâm của ASEAN (11,5%).

Theo nguyên tắc chung, tôi coi bất kỳ cuộc khảo sát nào cũng là một liều muối lớn. Chúng chỉ hữu ích như những chỉ số chung. Tuy nhiên, những gì cuộc khảo sát của ISEAS cho thấy là mặc dù sự thay đổi thái độ đối với sự hiện diện của quân đội Hoa Kỳ là có thật và quan trọng, nhưng đó không phải là toàn bộ câu chuyện.
 
Có một xu hướng trong số các nhà phân tích đơn giản hơn là vẽ ra mối tương quan tuyến tính giữa kinh tế và ảnh hưởng. Cơ sở của xu hướng này là một giả định có phần xúc phạm và có lẽ là dân tộc trung tâm - được giữ sâu sắc đến mức thường là vô thức - rằng chúng ta, những người bản xứ nghèo, hoặc là quá ngây thơ đến mức không biết lợi ích của chính mình hoặc quá tham nhũng đến mức bán linh hồn của mình để đổi lấy một mớ cháo.
 
Các nước lớn có trách nhiệm trấn an các nước láng giềng nhỏ hơn. Đây là trách nhiệm mà Trung Quốc không chỉ không hoàn thành mà còn có vẻ như thường xuyên cố gắng nhấn mạnh nỗi lo lắng tự nhiên của các nước nhỏ về một nước láng giềng lớn hơn.
 
Mối tương quan tuyến tính giữa kinh tế và ảnh hưởng hoàn toàn bỏ qua thứ đã và vẫn là thế lực mạnh nhất ở Đông Nam Á kể từ đầu thế kỷ 20: chủ nghĩa dân tộc.
 
Ngoại trừ một thời kỳ ngắn ngủi và đặc biệt trong lịch sử khi Nhật Bản chiếm đóng trong Thế chiến thứ hai, Đông Nam Á chưa bao giờ chịu sự chi phối của bất kỳ thế lực bên ngoài nào. Chủ nghĩa dân tộc đã vượt qua chủ nghĩa thực dân, vượt qua chủ nghĩa cộng sản, vượt qua những nỗ lực ngây thơ nhưng có ý tốt nhằm áp đặt các lý thuyết hiện đại hóa chính trị của phương Tây: chủ nghĩa dân tộc đã định hình tất cả các hệ thống chính trị Đông Nam Á theo con đường riêng biệt của họ. Với hai ngoại lệ rất bi thảm, chủ nghĩa dân tộc đã dẫn dắt các quốc gia Đông Nam Á vượt qua những nguy cơ của các cuộc xung đột ủy nhiệm giữa Hoa Kỳ-Xô và Trung-Xô. Ngay cả chủ nghĩa khu vực Đông Nam Á – ASEAN – cũng dựa trên việc khai thác chủ nghĩa dân tộc chứ không phải như ở Liên minh châu Âu, dựa trên một nỗ lực vô ích để vượt qua nó.
 
Chủ nghĩa dân tộc nhấn mạnh một khía cạnh cơ bản nhưng thường bị bỏ qua của quan hệ quốc tế giữa các quốc gia có chủ quyền: ngay cả quốc gia yếu nhất trong hoàn cảnh tồi tệ nhất cũng không bao giờ hoàn toàn không có tác nhân. Điều này vốn có trong chính ý tưởng về chủ quyền và quan hệ quốc tế như một hệ thống phức tạp bao gồm nhiều vòng phản hồi giữa các quốc gia có chủ quyền. Việc một quốc gia có đủ trí tuệ để nhận ra các cơ hội để thực hiện tác nhân của mình và khả năng cũng như kỹ năng để nắm bắt các cơ hội hay không, tất nhiên là những vấn đề khác nhau. Nhưng về nguyên tắc, có một số tác nhân. Nếu không, Singapore sẽ không tồn tại và tôi sẽ không ở đây để nói chuyện với bạn.
 
Câu châm ngôn thường được trích dẫn của Thucydides - kẻ mạnh làm theo ý mình và kẻ yếu phải chịu đựng những gì họ phải chịu đựng - thường được coi là tiên đề của chủ nghĩa hiện thực. Nhưng tôi luôn cho rằng nó quá đơn giản. Tiên đề của Thucydides chỉ là chủ nghĩa hiện thực thô sơ - hay được mô tả tốt hơn là chủ nghĩa định mệnh. Chủ nghĩa hiện thực thô thiển đôi khi không thực tế lắm và chủ nghĩa định mệnh thường gây tử vong cho các quốc gia nhỏ. Hai trường hợp ngoại lệ đáng buồn mà tôi đã đề cập trước đó là Lào và Campuchia vào những năm 1960 và đầu những năm 1970. Cả hai đều thực sự làm theo lời khuyên tồi tệ của Thucydides và từ bỏ quyền tự quyết của mình bằng cách đầu tiên áp dụng hình thức trung lập thụ động - ẩn mình và hy vọng không bị chú ý - và khi điều này không hiệu quả, giao quyền tự quyết của mình cho một thế lực bên ngoài mạnh hơn với những kết quả mà chúng ta đều biết.
 
Mặc dù bản thân Trung Quốc rất theo chủ nghĩa dân tộc, nhưng Trung Quốc thường mắc sai lầm khi coi nhẹ chủ nghĩa dân tộc của những nước khác. Mặc dù đang phải đối mặt với tương lai tăng trưởng chậm hơn, Trung Quốc là và sẽ vẫn là một cường quốc kinh tế đáng kể với sự hiện diện ngày càng tăng ở Đông Nam Á. Nhưng Bắc Kinh quá phụ thuộc vào sức mạnh kinh tế của mình như một công cụ ngoại giao và các nhà ngoại giao và học giả Trung Quốc đôi khi tỏ ra hơi bối rối và thất vọng khi thương mại, đầu tư và viện trợ, chưa kể đến những gì tôi sẽ lịch sự gọi là các khoản thanh toán ngoài sổ sách, không giành được lòng tin ở Đông Nam Á. Tôi đã có dịp nhắc nhở một số người bạn Trung Quốc của mình rằng ngay cả những cá nhân tham nhũng nhất cũng có thể là một người theo chủ nghĩa dân tộc. Có rất nhiều ví dụ trong lịch sử Đông Nam Á và thực tế là cả lịch sử Trung Quốc.
 
Ngoài ra, tôi xin lưu ý rằng Hoa Kỳ không tệ quá mức trong lĩnh vực kinh tế như một số người có thể nghĩ. Hoa Kỳ đã chọn không tham gia các hiệp định thương mại đa phương như Hiệp định Đối tác xuyên Thái Bình Dương và chính trị nội địa độc hại về thương mại khiến bất kỳ thỏa thuận nào như vậy trở nên bất khả thi trong tương lai gần. Điều tốt nhất có thể nói về Khung kinh tế Ấn Độ Dương - Thái Bình Dương, giả sử rằng nó tồn tại sau sự thay đổi trong Nhà Trắng, là nó tốt hơn không có gì. Điều này rõ ràng là không tốt. Nhưng Hoa Kỳ vẫn là đối tác kinh tế song phương quan trọng đối với hầu hết các nước Đông Nam Á; thực sự là đối với hầu hết các nước Ấn Độ Dương - Thái Bình Dương.
 
Trung Quốc giao dịch nhiều hơn với Đông Nam Á, nhưng bốn năm trước, David Shambaugh đã công bố một nghiên cứu về Hoa Kỳ và Trung Quốc ở Đông Nam Á có tựa đề "Nơi các Cường quốc Gặp nhau", trong đó ông chỉ ra rằng lượng đầu tư của Hoa Kỳ vào Đông Nam Á lớn hơn tổng lượng đầu tư của Trung Quốc, Nhật Bản và Hàn Quốc cộng lạiVà các khoản đầu tư chất lượng cao của Hoa Kỳ là những gì khu vực này cần để tiến lên chuỗi giá trị. Trung Quốc có lẽ chỉ có lợi thế trong các dự án cơ sở hạ tầng lớn. Tôi nghĩ David đã sử dụng số liệu năm 2018 và tôi chưa có thời gian cập nhật số liệu của ông  ấy.Nhưng tôi cược rằng bất kỳ ai quan tâm đến việc này một đô la cho một xu là tỷ lệ này không thay đổi.
 
Nhưng tôi lạc đề so với lập luận chính của mình. Điều này không chỉ đơn thuần là mối tương quan giữa kinh tế và ảnh hưởng phức tạp hơn thường được cho là, mà về cơ bản hơn, các lựa chọn ở Đông Nam Á – hay bất kỳ nơi nào khác – hiếm khi là nhị phân.
 
Có một xu hướng mạnh mẽ trong chính sách của Hoa Kỳ là coi Đông Nam Á như một tờ giấy trắng mà bạn thể hiện hy vọng và nỗi sợ của riêng mình. Những hy vọng và nỗi sợ này thường được thể hiện dưới dạng nhị phân. Nếu khu vực này không 'tự do' thì nó sẽ trở nên 'đỏ', nếu người Hồi giáo Đông Nam Á không 'ôn hòa' nghĩa là ủng hộ phương Tây, thì họ phải đang âm mưu khủng bố; nếu 'dân chủ' không tiến triển, thì nó phải 'thoái lui'; và gần đây nhất, nếu Đông Nam Á không liên kết với Hoa Kỳ, thì nó phải nằm dưới sự thống trị của Trung Quốc.
 
Cách suy nghĩ đơn giản này thường khiến chính sách của Hoa Kỳ gặp rắc rối ở Đông Nam Á - như trong Chiến tranh Việt Nam. Có lẽ dễ hiểu hơn trong hoàn cảnh hiện tại, khi cạnh tranh chiến lược giữa Hoa Kỳ và Trung Quốc chắc chắn là vấn đề địa chính trị quan trọng nhất mà thế giới đang phải đối mặt, làm thay đổi mọi vấn đề quốc tế khác. Nhưng ngay cả như vậy, cách suy nghĩ nhị nguyên không phải là khuôn khổ tinh thần tốt nhất để cố gắng hiểu bản chất của cạnh tranh Hoa Kỳ-Trung Quốc, chưa nói đến cách nó có thể diễn ra ở Đông Nam Á.

Một số bạn đã nghe tôi nói điều này nhiều lần trước đây, nhưng đây là một điểm quan trọng và tôi e rằng bạn sẽ phải chịu đựng khi nghe tôi nói lại một lần nữa: một trong những cách mô tả cạnh tranh Hoa Kỳ-Trung Quốc lười biếng và gây hiểu lầm nhất về mặt trí tuệ là gọi đó là 'một cuộc Chiến tranh Lạnh mới'. Có những điểm tương đồng hời hợt với cuộc cạnh tranh giữa Hoa Kỳ và Liên Xô trong một kỷ nguyên khác, nhưng lối nói bóng gió về 'một cuộc Chiến tranh Lạnh mới' về cơ bản đã làm sai lệch bản chất của cuộc cạnh tranh giữa Hoa Kỳ và Trung Quốc.
 
Cuộc cạnh tranh giữa Hoa Kỳ và Liên Xô diễn ra giữa hai hệ thống chỉ được kết nối một cách gián tiếp. Mục đích là để xem hệ thống nào sẽ thay thế hệ thống kia. Nhưng Hoa Kỳ và Trung Quốc cạnh tranh trong một hệ thống duy nhất mà họ là những thành phần quan trọng nhất, được kết nối với nhau và với những thành phần khác bằng một mạng lưới chuỗi cung ứng dày đặc và phức tạp, chưa từng tồn tại trong lịch sử thế giới.
 
Hoa Kỳ và Trung Quốc có thể muốn thống trị hệ thống này, nhưng mục tiêu của cuộc cạnh tranh của họ không thể là thay thế hệ thống này bằng hệ thống khác như trong thời kỳ cạnh tranh trước đó giữa Hoa Kỳ và Liên Xô vì Hoa Kỳ và Trung Quốc đều là những bộ phận quan trọng của cùng một hệ thống. Muốn thống trị hệ thống như Trung Quốc dường như muốn làm, hoặc cố gắng duy trì sự thống trị như Hoa Kỳ dường như muốn làm, không giống với việc tìm kiếm sự thay đổi mang tính hệ thống.
 
Trung Quốc là một trong những bên hưởng lợi chính của hệ thống này. Trên thực tế, bản chất của nhiều lời phàn nàn về hành vi kinh tế quốc tế của Trung Quốc dường như là, cho dù bằng phương tiện công bằng hay gian dối, Trung Quốc đã quá thành công. Bất kể bạn nghĩ về phương tiện của Trung Quốc, thì Bắc Kinh không có động lực mạnh mẽ nào để đá đổ bàn. Bạn chỉ làm như vậy nếu bạn đang thua. Trung Quốc chắc chắn là nước theo chủ nghĩa trả thù hung hăng ở Biển Hoa Đông và Biển Đông, nhưng gọi họ là người theo chủ nghĩa xét lại hoặc là 'đối thủ cạnh tranh có hệ thống' là một lời nói quá.
 
Hoa Kỳ và Trung Quốc tìm cách giảm thiểu các lỗ hổng trong sự phụ thuộc lẫn nhau bằng cách cố gắng từ chối đối thủ của họ một số công nghệ nhất định, đa dạng hóa chuỗi cung ứng hoặc bằng cách cố gắng trở nên tự lực hơn. Nhưng họ không có khả năng thành công ngoại trừ một phần. Việc gỡ rối mạng lưới chuỗi cung ứng là một nhiệm vụ khó khăn, nói thì dễ hơn làm. Dù muốn hay không, Hoa Kỳ và Trung Quốc sẽ tiếp tục kết nối đáng kể và cạnh tranh trên cơ sở đó. Vào năm 2023, bất chấp mọi hạn chế về công nghệ và định hướng lại chuỗi cung ứng, tổng khối lượng thương mại Hoa Kỳ-Trung Quốc là 575 tỷ đô la Mỹ, giảm so với mức 690 tỷ đô la Mỹ vào năm 2022 nhưng vẫn đáng kể. Tôi nghi ngờ rằng sự sụt giảm này có thể là do sự chậm lại của nền kinh tế Trung Quốc cũng như các hạn chế của Hoa Kỳ. Trừ khi có một sự kiện thảm khốc như một cuộc chiến tranh lớn, thì rất khó có khả năng mạng lưới phức tạp này sẽ hoàn toàn chia tách thành hai hệ thống riêng biệt, ngoại trừ một số lĩnh vực cụ thể. Toàn cầu hóa đang chịu áp lực và sẽ chậm lại và trở nên chắp vá. Nhưng các kịch bản khải huyền về sự sụp đổ của nó lại thiếu độ tin cậy.
 
Động lực cạnh tranh trong một hệ thống khác với động lực cạnh tranh giữa các hệ thống. Về cơ bản, sự cạnh tranh trong một hệ thống là phức tạp, không phải nhị phân, và mạng lưới khiến tất cả chúng ta vướng vào lưới của nó đã làm mờ đi ranh giới giữa bạn và thù. Sự phức tạp đó sẽ không bị xóa bỏ bằng cách buộc nó vào một chiếc áo bó sát ý thức hệ nhị phân như cuộc cạnh tranh giữa
‘dân chủ’ và ‘chủ nghĩa độc tài’ mà chính quyền hiện tại thường nhấn mạnh. Chính trị trong nước của Hoa Kỳ có thể khiến việc định hình vấn đề theo cách này trở nên cần thiết, nhưng về mặt ngoại giao, nó phản tác dụng vì nó thu hẹp thay vì mở rộng sự ủng hộ tiềm năng và chỉ thuyết phục được những người đã cải đạo.
 
Trong sự phức tạp, có nhiều cơ hội hơn để thực hiện quyền tự quyết. Các quốc gia Đông Nam Á sẽ nắm bắt những cơ hội đó theo lợi ích của họ và trong phạm vi khả năng của họ cho phép. Họ có thể không phải lúc nào cũng thành công, nhưng về nguyên tắc, đó là những gì họ sẽ cố gắng làm. Thật sai lầm khi nghĩ rằng chỉ vìhiện nay có sự đánh giá cao hơn về vai trò của Hoa Kỳ trong việc duy trì sự cân bằng khu vực ở Đông Nam Á, điều này nhất thiết sẽ chuyển thành sự liên kết lợi ích trên tất cả lĩnh vực với lợi ích của Hoa Kỳ. Điều đó đơn giản là sẽ không xảy ra. Bắc Kinh cũng sẽ không thành công trong việc khiến khu vực này liên kết tất cả các lợi ích của mình với Trung Quốc.
 
Hoa Kỳ và Trung Quốc thường nói rằng họ không muốn người khác phải lựa chọn giữa họ. Thưa quý ông, quý bà, tôi sẽ tiết lộ cho các bạn một bí mật nhỏ. Chúng ta chẳng tin bất kỳ anh nào trong số họ!
 
Các nước Đông Nam Á có ý gì khi họ nói rằng họ không muốn lựa chọn giữa Hoa Kỳ và Trung Quốc? Câu nói này rất nổi tiếng. Nhưng ý định truyền tải của nó lại ít được hiểu rõ. Nó không có nghĩa là ‘trung lập’ vì ‘trung lập’ không phải là hành động đơn phương mà cần được những nước khác tôn trọng và không phải tự nhiên mà nó sẽ được tôn trọng ở Đông Nam Á. Nó không có nghĩa là duy trì khoảng cách cân bằng giữa Hoa Kỳ và Trung Quốc. Và chắc chắn không có nghĩa là thụ động trong bối cảnh cạnh tranh giữa các cường quốc vì trong lịch sử, điều đó đã gây ra thảm họa cho những kẻ đủ ngu ngốc để cố gắng làm như vậy.
 
‘Không muốn lựa chọn’ là một chiến lược năng động và chủ động. Nó đòi hỏi sự cảnh giác, nhanh nhẹn liên tục, khả năng đánh giá tình hình một cách lâm sàng và tập trung cao độ vào lợi ích quốc gia của bạn. Hãy để tôi minh họa điều này liên quan đến đất nước của tôi.
 
Khi Singapore nói 'chúng tôi không muốn lựa chọn' - và chúng tôi là một trong những người sử dụng cụm từ đó một cách siêng năng nhất - điều đó có nghĩa là chúng tôi sẽ lựa chọn theo lợi ích của mình trong các lĩnh vực khác nhau và chúng tôi thấy không cần phải xếp hàng tất cả các con vịt của mình theo một hướng này hay hướng khác. Trong lĩnh vực quốc phòng và an ninh, chúng tôi đã rõ ràng chọn Hoa Kỳ và phương Tây nói chung và đã đưa ra lựa chọn đó từ lâu. Nhưng một số lợi ích chính trị của chúng tôi tương thích hơn với thái độ của Trung Quốc, ví dụ như về một số cách giải thích về nhân quyền và phạm vi được gọi là quyền phổ quát cho phép các quốc gia khác can dự vào các vấn đề nội bộ của chúng tôi. Và về kinh tế, chúng tôi thực sự dễ dãi: không có đối tác thương mại mà chúng tôi không muốn, tất nhiên là luật pháp quốc tế cho phép.
 
Singapore chỉ là một ví dụ về bản năng ngoại giao chung của Đông Nam Á được nhúng vào DNA của chúng tôi qua nhiều thế kỷ sống giữa các cuộc cạnh tranh giữa các cường quốc lớn, trong đó cuộc cạnh tranh giữa Hoa Kỳ và Trung Quốc chỉ là sự lặp lại mới nhất. Tất nhiên là có những biến thể quốc gia về cách thức – và mức độ – các quốc gia chơi trò chơi, nhưng việc dồn hết
trứng vào một giỏ không phải là điều tự nhiên đối với hầu hết chúng ta. Lào và Campuchia lại là ngoại lệ. Nhưng có những dấu hiệu mờ nhạt cho thấy ít nhất Phnom Penh đang bắt đầu phòng ngừa sự phụ thuộc quá mức vào Trung QuốcNgoại giao Đông Nam Á về bản chất là đa thê chứ không phải một vợ một chồng.
 
Hai quốc gia Đông Nam Á lớn thành công nhất trong việc cân bằng nhiều lợi ích với các cường quốc khác nhau là Việt Nam và Indonesia.
 
Mặc dù đã từng chiến đấu với Hoa Kỳ, nhưng sự ngờ vực trong lịch sử của Việt Nam đối với Trung Quốc - thể hiện rõ nhất ở Biển Đông: đừng quên Trung Quốc đã cưỡng bức trục xuất quân đội Nam Việt Nam khỏi quần đảo Hoàng Sa ngay từ năm 1974 và chiếm giữ họ trước thềm chiến thắng của Bắc Việt Nam - đã khiến Hà Nội đầu tiên tìm cách thắt chặt quan hệ với Liên Xô và sau đó là Hoa Kỳ. Nhưng người Mỹ cũng nên nhớ rằng Trung Quốc và Việt Nam là hai trong số năm quốc gia duy nhất còn tồn tại theo chủ nghĩa Lênin do các đảng tiên phong lãnh đạo. Bất kể bất đồng gay gắt và sự ngờ vực sâu sắc đối với Trung Quốc, Hà Nội sẽ không làm gì với Hoa Kỳ hoặc bất kỳ cường quốc nào khác có thể gây nguy hiểm cho sự cai trị của một đảng tiên phong khác.
 
Kể từ năm 1945, Indonesia – dù là một ‘Nền dân chủ có hướng dẫn’ ve vãn cộng sản dưới Sukarno, một chế độ quân sự thiên về phương Tây dưới thời Suharto, hay dưới một loạt các tổng thống ‘cải cách’ sau năm 1998 – đã chấp nhận một lượng lớn viện trợ và đầu tư từ Liên Xô, Trung Quốc theo chủ nghĩa Mao, Hoa Kỳ, Nhật Bản và Châu Âu, nhưng luôn đi theo con đường ‘bebas dan aktif’ (tự do và chủ động) của riêng mình bất kể mong muốn của những người tự lừa dối mình rằng họ là người bảo trợ được ưu ái của Jakarta. Với tư cách là Bộ trưởng Quốc phòng, Prabowo Subianto đã giám sát những cải thiện đáng kể trong quan hệ quốc phòng với Hoa Kỳ, nhưng Tổng thống đắc cử Prabowom đã chọn Trung Quốc là chuyến công du nước ngoài đầu tiên của mình, nhưng nhanh chóng cân bằng điều đó với các chuyến thăm Nhật Bản và Malaysia.
 
Chính sách ngoại giao mong manh theo truyền thống của Thái Lan đã bị cản trở bởi hơn một thập kỷ bất ổn nội bộ và vẫn chưa biết liệu chính phủ mới có làm tốt hơn khôngTuy nhiên, không thể chiếm được Đông Nam Á nếu không bảo vệ được
Indonesia và Việt Nam, hai trong số những quốc gia lớn nhất ở Đông Nam Á có lịch sử ngoại giao được đặc trưng bởi việc từ chối khuất phục bất kỳ thế lực bên ngoài nào.
 
Đông Nam Á là một trong những khu vực đa dạng nhất trên thế giới; thực sự, nó không thể được đặc trưng bởi bất kỳ điều gì vốn có ngoại trừ, một cách nghịch lý, chính là sự đa dạng của nó. Như Eric Thompson của Đại học Quốc gia Singapore đã nói một cách khéo léo: "Trong khi các khu vực khác trên thế giới – chẳng hạn như Đông Á, Châu Âu, Trung Đông hoặc Nam Á – được định nghĩa bởi các thế lực bên ngoài, thì sự đa dạng của Đông Nam Á đã được tạo ra thông qua các mạng lưới phức tạp về thương mại, ý tưởng, và các mối quan hệ xã hội". Sự đa dạng mang lại cho khu vực này một phẩm chất về cơ bản là khó nắm bắt: cố gắng chiếm giữ Đông Nam Á cũng giống như cố gắng nắm lấy một nắm thạch Jell-O. Những mạng lưới này hoặc một số phần của chúng sẽ luôn chảy qua kẽ tay bạn.

Là ngã tư chiến lược nối liền Ấn Độ Dương và Thái Bình Dương, Đông Nam Á là một khu vực đa cực tự nhiên vì hầu như luôn có nhiều hơn một thế lực bên ngoài hiện diện và cạnh tranh giành ảnh hưởng. Đa cực tạo ra không gian cơ động. Các diễn đàn do ASEAN khởi xướng như ARF, EAS và ASEAN Hội nghị Bộ trưởng Quốc phòng mở rộng nhằm mục đích khuyến khích và củng cố tính đa cực tự nhiên của khu vực và do đó tối đa hóa phạm vi thực hiện quyền tự chủ để bảo vệ lợi ích của chúng ta. Những diễn đàn này sẽ không bao giờ là phương tiện chính để làm như vậy, nhưng dù sao cũng là những bổ sung hữu ích cho các chính sách quốc gia.
 
Chính sách của Hoa Kỳ ở Đông Nam Á đã thành công hơn nhiều người tin tưởng, kể cả một số người ở Đông Nam Á. Và không chỉ trong lĩnh vực quốc phòng và an ninh. Tôi không thấy những hàng dài người xếp hàng bên ngoài các đại sứ quán Trung Quốc để xin thị thực di cư hoặc thị thực du học. Tuy nhiên, nhiệm vụ trước mắt chúng ta – ‘chúng ta’ là người Mỹ và Đông Nam Á
  • Hai quốc gia Đông Nam Á lớn thành công nhất trong việc cân bằng nhiều lợi ích với các cường quốc khác nhau là Việt Nam và Indonesia
Người châu Á tin tưởng Hoa Kỳ có vai trò quan trọng trong việc duy trì sự ổn định – tức là làm thế nào để tiếp tục duy trì sự thống nhất giữa các lợi ích an ninh của chúng ta. Việc dựa vào sai lầm của đối thủ không phải là một chiến lược.
 
Chiến lược sẽ cấu thành như thế nào? Tôi sẽ không cố gắng trả lời câu hỏi đó một cách toàn diện. Điều đó sẽ mất quá nhiều thời gian và liên quan đến quá nhiều chi tiết. Tôi sẽ tập trung vào một ý tưởng lớn và, theo tôi, là quan trọng.
 
Khởi đầu của một chiến lược bền vững sẽ là các nhà hoạch định chính sách về Hoa Kỳ tập trung nhiều hơn vào các lợi ích chung và nói ít hơn về các giá trị chung, thực sự hoặc tưởng tượng. Điều này có thể khiến một số người trong số các bạn coi đây là lời khuyên hoàn hảo xét đến văn hóa chính trị của Hoa Kỳ và các mệnh lệnh của chính trị trong nước Hoa Kỳ. Tôi không mong đợi các bạn ngừng hoàn toàn việc nói về các giá trị. Nhưng ít nhất bạn nên biết rằng mặc dù chúng ta có thể sử dụng cùng một từ để mô tả các giá trị – ‘dân chủ’ và ‘chủ nghĩa chuyên chế’ hiện ra trong đầu cũng như các cụm từ như ‘trật tự dựa trên quy tắc’ – chúng ta không nhất thiết có nghĩa là cùng một điều.
 
Các giá trị về bản chất là những thứ thay đổi liên tục. Chúng luôn dễ bị diễn giải theo nhiều cách và nhiều ứng dụng, do đó dễ bị hiểu lầm. Không phải mọi khía cạnh của mọi biến thể dân chủ phương Tây đều khiến chúng ta ngưỡng mộ vô điều kiện cũng như chúng ta không lùi bước trước mọi khía cạnh của mọi biến thể của chủ nghĩa chuyên chế. Tập trung vào lợi ích đòi hỏi bạn phải giải quyết khu vực theo các điều khoản của riêng nó như một khu vực chứ không phải chỉ là bối cảnh cho những giấc mơ và cơn ác mộng của riêng bạn. Và vì chúng có thể được định nghĩa chính xác hơn, nên lợi ích ít bị hiểu lầm hơn.
 
Tôi không muốn đẩy sự khác biệt giữa lợi ích và giá trị đi quá xa vì các giá trị là lợi ích đối với những người nắm giữ chúng. Nhưng giá trị là lợi ích đối với những người giữ chúng bất kể bạn có đồng ý với giá trị của họ hay không và ngay cả khi bạn thấynhững giá trị đó là đáng ghê tởm. Thật sai lầm khi nghĩ rằng giá trị của bạn là giá trị duy nhất hợp lệ. Bạn không nên được an ủi khi Trung Quốc mắc phải những sai lầm tương tự.
 
Điều đặc biệt quan trọng là tránh nghĩ rằng giá trị của bạn là giá trị duy nhất hợp lệ khi đối phó với một quốc gia theo chủ nghĩa Lenin như Trung Quốc, được tổ chức theo các nguyên tắc chính trị khác nhau và ngoài ra còn xa lạ về mặt văn hóa với phương Tây. Tôi hy vọng tất cả chúng ta không còn tin rằng cải cách kinh tế sẽ dẫn đến sự hội tụ chính trị. Mục đích của cải cách trong một quốc gia theo chủ nghĩa Lenin luôn là củng cố Đảng và củng cố quyền lực độc quyền của mình. Nhưng dù sao thì tất cả chúng ta đều phải đối phó với Trung Quốc.
 
Và vì tất cả chúng ta đều phải đối phó với Trung Quốc bất kể chúng ta nghĩ gì về hệ thống hoặc chính sách của họ, nên một lợi ích quan trọng mà chúng ta nên có chung là hiểu rằng không có lợi ích gì khi coi Trung Quốc là quỷ dữ. Bạn nên cạnh tranh với Trung Quốc hoặc bất kỳ đối thủ nào và làm như vậy một cách mạnh mẽ nhất có thể. Như tôi đã nhấn mạnh, chỉ có Hoa Kỳ mới có thể duy trì sự cân bằng cần thiết cho sự ổn định và hiểu rõ hơn về thực tế đó đã giúp bạn giành được sự ủng hộ thầm lặng ở Đông Nam Á. Nhưng việc bôi nhọ Trung Quốc sẽ phản tác dụng và có thể khiến bạn mất đi sự ủng hộ. Bất kể họ lo lắng về Trung Quốc như thế nào, không ai, không chỉ ở Đông Nam Á mà còn trên toàn khu vực Ấn Độ Dương - Thái Bình Dương, sẽ cùng bạn bôi nhọ Trung Quốc, ngay cả những đồng minh thân cận nhất của bạn.
 
Tôi đã dành gần 40 năm cuộc đời mình để cố gắng thuyết phục những người bạn Mỹ - hoàn toàn không thành công đáng kể nào - rằng hệ thống chính trị kỳ lạ và tuyệt vời của các bạn không được hiểu rõ ở Đông Nam Á như một số người Mỹ có thể thích thú tưởng tượng. Thường thì, chính trị trong nước của các bạn bị hiểu lầm, và rất thường xuyên, sự thiếu hiểu biết khiến những gì các đại diện được bầu của các bạn làm hoặc nói vì lý do trong nước làm suy yếu chính sách của Hoa Kỳ. Do đó, sự thiếu hiểu biết này là một gánh nặng chiến lược.

Việc Thượng nghị sĩ Tom Cotton chất vấn những người Hoa gốc Singapore nhưng là Tổng giám đốc điều hành của Tik Tok vào tháng 2 năm nay là một ví dụ điển hình. Thượng nghị sĩ Cotton đã gộp chung dân tộc với quốc tịch và ngụ ý mạnh mẽ qua câu hỏi của mình rằng ông tin rằng tất cả những người Hoa gốc Hoa đều trung thành với ĐCSTQ. Việc ông thấy lợi thế trong nước
khi làm như vậy là rõ ràng vì ông đã tự hào đăng các đoạn clip về màn trình diễn của mình trên mạng xã hội. Và 'hiệu suất' là vì, biết một chút về đất nước này và chính trị của nó, cá nhân tôi không nghĩ rằng vị thượng nghị sĩ tốt bụng này thực sự thiếu hiểu biết hoặc phân biệt chủng tộc như ông ta đã thể hiện vì ông ta đã vận động hành lang mạnh mẽ để một đội không quân Singapore
được triển khai đến tiểu bang Arkansas quê hương của ông ta. Tại sao ông ta phải làm như vậy nếu ông ta thực sự nghĩ rằng tất cả chúng ta đều đang làm việc cho ĐCSTQ? Nhưng hầu hết người Singapore và những người khác ở Đông Nam Á đã xem những trò hề của ông ta trên TV đều không hiểu chính trị Hoa Kỳ. Thượng nghị sĩ Cotton đã hiệu quả hơn nhiều so với bất kỳ điệp viên Trung Quốc nào trong việc củng cố hình ảnh tiêu cực của Hoa Kỳ mà những người tuyên truyền của ĐCSTQ cố gắng quảng bá.

Đừng làm xấu Trung Quốc. Nhưng bạn cũng không nên làm xấu chính mình.
 
Những trí thức người Mỹ - trong đó tôi bao gồm các nhà báo và nhiều chuyên gia khác, không phải tất cả những người này đều cảm ơn tôi vì đã làm như vậy - có xu hướng tự phê bình, đôi khi là quá mức. Nhìn chung, tự phê bình là một phẩm chất tích cực nhưng có thể có quá nhiều điều tốt. Tôi đã đọc về sự suy tàn của nước Mỹ kể từ khi tôi còn là sinh viên sau đại học tại Đại học Columbia vào cuối những năm 1970. Vào thời điểm đó, Upper West Side, hay thậm chí là toàn bộ Thành phố New York, không phải là nơi giới thiệu tốt nhất về nước Mỹ. Nhưng bạn vẫn ở đây và Thành phố New York ngày nay gần như là một thành phố khác. ‘Trẻ hóa’ không phải là độc quyền của Trung Quốc.
 
Hoa Kỳ đang gặp phải những vấn đề nghiêm trọng và tôi không gợi ý rằng bạn nên noi gương ĐCSTQ và che đậy chúng. Nhưng một tiếng trống tiêu cực đều đặn không thể không có tác động. Hoa Kỳ cũng có những thế mạnh to lớn và chúng ta cần nghe nhiều hơn về điều đó. Một quan điểm cân bằng là rất quan trọng, đặc biệt là trong năm bầu cử khi có ít nhất một cơ hội ngang bằng rằng ông Donald Trump có thể được bầu.3 Viễn cảnh đó đã làm mất bình tĩnh một số trí thức người Mỹ đến mức đôi khi họ nghe giống như Vương Hưng Ninh đang hả hê về sự suy tàn của chính thể Hoa Kỳ.
 
Cá nhân tôi không tin rằng sự phân cực chính trị và các cuộc chiến văn hóa mà bạn đang trải qua ngày nay là điều tồi tệ nhất mà bạn đã phải chịu đựng và vượt qua. Cuộc tấn công vào Đồi Capitol vào ngày 6 tháng 1 năm 2020 chắc chắn không phải là giờ phút tốt đẹp nhất của nước Mỹ, và chính trị và xã hội chắc chắn đang bị phân cực. Nhưng liệu tình trạng rối loạn chính trị hiện tại có thực sự tồi tệ hơn tình trạng hỗn loạn chính trị – bao gồm một số vụ ám sát – mà tôi đã chứng kiến trong suốt cuộc đời mình vào những năm 1960 và 1970 không? Tôi chỉ xem một phần của một tập phim lịch sử, chủ yếu là từ xa. Nhưng rõ ràng rằng bạn không chỉ sống sót sau giai đoạn bất hòa nội bộ nghiêm trọng đó – mà chỉ là một trong số nhiều giai đoạn trong 248 năm Hoa Kỳ tồn tại – mà còn tiếp tục phát triển mạnh mẽ. Tại sao? Có một sự thật đơn giản về nước Mỹ mà không được hiểu rõ ở Đông Nam Á và tôi dám nói là ở nhiều quốc gia khác trên khắp Ấn Độ Dương - Thái Bình Dương. Sự thật là nước Mỹ được thành lập bởi những người về cơ bản không tin tưởng vào chính phủ mạnh mẽ và sự ngờ vực đó vẫn hình thành nên một phần thiết yếu của văn hóa chính trị Mỹ.
 
Chính trị luôn quan trọng nhưng có lẽ nó ít quan trọng hơn ở Hoa Kỳ so với hầu hết các quốc gia khác. Bài học lớn và lâu dài đầu tiên mà tôi rút ra được khi học tập ở đất nước của bạn cách đây cả đời (bài học thứ hai là sở thích uống rượu bourbon) là những điều quan trọng nhất về nước Mỹ - nguồn gốc thiết yếu của sức mạnh, sự sáng tạo và khả năng phục hồi của bạn - không nhất thiết phải nằm ở Washington, D.C. Chúng bắt nguồn từ xã hội dân sự và các tổ chức công dân, từ các tập đoàn lớn, các trường đại học và phòng thí nghiệm nghiên cứu tuyệt vời, từ Phố Wall và từ các con phố chính của 50 tiểu bang.
 
Tôi không tranh luận rằng những gì xảy ra ở thị trấn này có thể bị bỏ qua. Những gián đoạn mà một quốc gia lớn và hùng mạnh có thể gây ra, khi bị lãnh đạo kém, sẽ thu hút sự chú ý. Tuy nhiên, sức mạnh, sự sáng tạo và khả năng phục hồi của bạn thường không phải do những gì xảy ra ở D.C. mà thường là bất chấp D.C. và những người đã bỏ qua sự thật này về nước Mỹ thường không sống để hối hận về sự thiếu sót của mình.
 
Nhiều người Mỹ coi ý tưởng này – rằng những điều quan trọng nhất về Hoa Kỳ không nhất thiết phải xảy ra ở Washington, D.C. – là điều hiển nhiên. Nhưng đó không phải là ý tưởng mà hầu hết người Đông Nam Á đều hiểu theo bản năng vì tất cả các nền văn hóa chính trị của chúng ta đều coi chính phủ tốt là chính phủ trung ương mạnh. Do đó, chính trị của bạn và thậm chí hơn thế nữa, những lời chỉ trích của chính bạn về chính trị của mình, dù là của giới truyền thông hay học giả, luôn có nguy cơ bị hiểu lầm về cơ bản; được coi trọng hơn – hoặc có lẽ theo nghĩa đen là một từ hay hơn – so với ý định ban đầu. Mượn một cụm từ của Tập Cận Bình, bạn cần phải 'kể câu chuyện của nước Mỹ hay hơn'.

Tôi không có ý thuyết giáo với bạn về việc phải có niềm tin vào đất nước của mình và nếu tôi có hiểu theo cách đó, tôi xin lỗi. Ý tôi chỉ là ngay cả khi ông Trump được bầu lại, nước Mỹ hoặc thế giới sẽ không kết thúc. Nước Mỹ trước thời Trump không phải là một thiên đường tiền sa ngã. Không có nhiều sự nhiệt tình về chính sách đối ngoại của chính quyền Obama thứ hai ở Châu Á, ngay cả trong số các đồng minh của Hoa Kỳ. Không phải mọi thứ mà chính quyền Trump đã làm trong chính sách đối ngoại đều sai và có sự liên tục rõ ràng giữa chính quyền Trump và chính quyền Biden, đặc biệt là trong chính sách Trung Quốc.
 
Trong mọi trường hợp, chỉ có một nước Mỹ và chúng ta sẽ tìm ra cách làm việc với bất kỳ ai chiếm giữ Nhà Trắng. Các nhà trí thức Mỹ có thể giúp bằng cách không quên – và liên tục nhắc nhở các đại diện được bầu của bạn – rằng trong thời đại mà hầu hết mọi người ở khắp mọi nơi đều nhận được phần lớn thông tin của họ từ mạng xã hội; khi sự khác biệt giữa thông tin và ý kiến đã bị xóa nhòa ngay cả trong các phương tiện truyền thông truyền thống; khi cả thông tin và ý kiến đều trở thành hình thức giải trí; và khi công nghệ đã mang lại cho các hoạt động ảnh hưởng những công cụ mới đáng gờm, thì cạnh tranh chiến lược mang tính tâm lý nhiều như vật chất.
 
Những gì bạn có thể định hướng cho khán giả trong nước hoặc chỉ để trút giận hoặc cường điệu hóa quá mức để thu hút sự chú ý, có thể sẽ gây được tiếng vang rất khác trên trường quốc tế. Tôi đã nhớ lại một thời gian trước về khả năng phục hồi lịch sử của nước Mỹ. Quan điểm lịch sử càng trở nên quan trọng hơn khi tính khí của thời đại chúng ta là tập trung vào những điều trước mắt. Tất cả chúng ta đều dành quá nhiều sự chú ý đến các sự kiện và không đủ sự chú ý đến các quá trình mà tất cả các sự kiện đều gắn liền. Điều này có thể dẫn đến những quyết định tồi tệ của các nhà lãnh đạo dư luận ở Đông Nam Á và những nơi khác, những người có sự hiểu biết về nước Mỹ dường như thường bắt nguồn từ bài xã luận cuối cùng mà họ đọc. Tâm trạng chính trị của nước Mỹ nói chung diễn biến theo từng đợt, dao động giữa đỉnh cao của sự tự tin thái quá và đáy thấp của sự nghi ngờ bản thân. Giới trí thức Mỹ nên giúp Đông Nam Á hiểu cả đỉnh cao và đáy thấp nhưng không nhầm lẫn giữa hai trạng thái này với một trạng thái vĩnh viễn.
 
Chắc chắn có lý do để lo ngại về một số hướng đi mà chính trị trong nước đang đưa