Đây là bức tranh nổi tiếng của Họa sĩ người Pháp Jean Leon Gerome (1824-1904), mang tên “The Truth Coming Out Of Her Well“ - Tạm dịch là Sự Thật nơi đáy giếng.Bức tranh này được vẽ năm 1894 dựa trên một câu chuyện dân gian như sau:Chuyện kể rằng có một ngày Hè, Sự Thật và Dối Trá tình cờ gặp nhau.Dối Trá nói: "Hôm nay trời đẹp quá!".Sự Thật ngước nhìn lên và đúng như lời Dối Trá đã nói: Trời rất trong xanh, tràn ngập nắng vàng, từng cụm mây trắng lững lờ trôi thật đẹp...Rồi cả hai lại đến bên một cái giếng.Dối Trá nói: "Giếng trong mát quá. Chúng mình hãy tắm đi!".Sự Thật mới đầu còn nghi ngại, nhưng khi nhìn xuống giếng, thấy nước trong mát thật, bèn trút bỏ bộ quần áo đẹp và nhảy xuống giếng tắm cùng Dối Trá.Chỉ chờ có thế,Dối Trá leo nhanh lên khỏi miệng giếng, khoát vào người bộ y phục đẹp đẽ của Sự Thật rồi bỏ chạy thật nhanh.Sự Thật hốt hoảng leo lên miệng giếng, bối rối đuổi theo để giành lại bộ quần áo. Nhưng nàng đuổi tới đâu cũng có đám đông hai bên đường túa ra chỉ trỏ, cười nhạo vì nàng hoàn toàn lõa thể. Sự Thật trần trụi thấy xấu hổ quá nên không đuổi theo Dối Trá nữa, mà chỉ bưng mặt trèo lại xuống đáy giếng, lặn trốn mất tăm.Kể từ đó, loài người không còn ai nhìn thấy được Sự Thật nữa.Họ chỉ thấy Dối Trá ung dung hiện diện ở mọi nơi, mọi lúc. Họ luôn tán dương nó, vuốt ve nó, say mê nó, học đòi theo nó, chỉ vì vẻ ngoài hào nhoáng và đẹp đẽ mà nó đã ăn cắp từ Sự Thật.Sự Thật dẫu có tốt thì vẫn luôn là trần trụi,Dối Trá dẫu xấu xa nhưng lại vô cùng quyến rũ!Chừng nào loài người còn say mê trước những ngọt ngào và kiều diễm, thì chừng nấy Sự Thật còn lặn rất sâu.Nguồn: Học làm người. 🐒
Thứ Tư, 31 tháng 7, 2019
Sự Thật và Dối Trá
Việt Nam đã bỏ qua bao nhiêu cơ hội kiện Trung Quốc?
Bài đăng lại từ VNTB
VNTB- Việt Nam đã bỏ qua bao nhiêu cơ hội kiện Trung Quốc?
Phạm Chí Dũng
VOA 29/7/2019
Tàu thám hiểm "Hải Dương Địa Chất 8" của Cục Khảo sát Địa chất Trung Quốc (Ảnh: China Geological Survey)
Chỉ tính từ năm 2011 khi nổ ra vụ tàu Bình Minh 2 của Việt Nam bị tàu hải giám Trung Quốc cắt cáp - một cách côn đồ và mặt lạnh không kém cái cách cả hai chính quyền độc đảng độc trị này luôn thẳng tay đàn áp dân chúng và những tiếng nói phản đối, cho tới nay Hà Nội đã bỏ qua rất nhiều cơ hội để có thể kiện Bắc Kinh ra tòa án quốc tế về các vụ xâm nhập ‘vùng biển chủ quyền không thể tranh cãi của Việt Nam’.
‘Tổng tịch’ nói gì?
Mùa mưa bão tháng 7 năm 2019, một lần nữa cơn sóng lừng mang tên Hải Dương của Trung Quốc lại chực chồm lên ‘thuyền nan đòi ra biển lớn’ của Hà Nội, áp thể chế này vào cái thế một lần nữa phải tính đến việc kiện Trung Quốc, hoặc ít nhất cũng lấp ló khả năng kiện tụng ra trước công luận nhằm xoa dịu phản ứng của dư luận xã hội về một chế độ chỉ biết ‘hèn với giặc, ác với dân’.
Thêm một lần nữa trong nhiều lần, một ít chuyên gia và cũng chỉ một ít tờ báo nhà nước - thật sự sốt ruột trước cảnh ‘trùm mền’ của giới chóp bu Việt Nam - đã phải liệt kê hàng nửa tá cơ sở cho triển vọng ‘Việt Nam sẽ chắc thắng nếu kiện Trung Quốc’.
Người ta cũng không khỏi xót ruột khi chứng kiến hình ảnh ‘tái xuất’ của nhân vật ‘tổng tịch’ Nguyễn Phú Trọng vào đúng thời điểm tàu thăm dò địa chất Hải Dương - 8 và nhiều tàu hải cảnh hộ vệ của Trung Quốc vẫn vờn qua vờn lại ngay trong vùng lãnh hải Việt Nam ở khu vực Bãi Tư Chính, còn hàng đàn máy bay SU-35 của Trung Quốc thi nhau diễu hành ở Biển Đông, nhưng trên phương diện cần có những phát ngôn công khai để thông tin về cái gì đang xảy ra, hay dù chỉ để trấn an dư luận, thì Trọng lại tuyệt đối nín lặng.
Thay vào đó, ‘bậc nhân kiệt thế thiên hành đạo’ gặp gỡ ‘100 cán bộ công đoàn tiêu biểu’ với lời nhắc nhở “Tuyệt đối không để các thế lực thù địch lợi dụng lòng yêu nước chân chính của công nhân, người lao động, kích động, lôi kéo biểu tình, tụ tập gây rối, làm mất an ninh, trật tự, gây chia rẽ khối đại đoàn kết dân tộc”.
Dù không một lời dám đả động đến vụ Hải Dương - 8 và cái cách mà Tập Cận Bình đang chễm chệ ngự ngay trong ngôi nhà Việt Nam không cần phải xin phép, Nguyễn Phú Trọng rõ ràng đã đủ can đảm ám chỉ đến vụ gây rối mang tính bạo động của công nhân - được dẫn dắt và chỉ huy bởi những kẻ giang hồ không rõ danh tính và có thể chẳng bao giờ được công an tiết lộ danh tính - hung hãn lao vào đập phá các nhà xưởng của nhiều doanh nghiệp ở hai tỉnh Bình Dương và Đồng Nai vào tháng 5 năm 2014, như một cách phản ứng có bàn tay ngầm chỉ đạo, nhưng không rõ là thuận hay nghịch với vụ giàn khoan Hải Dương 981 của Trung Quốc lao vào vùng hải phận của Việt Nam trên Biển Đông như một cái tát tai nảy lửa vào mặt toàn bộ Bộ Chính trị và Bộ Quốc phòng Việt Nam.
Sau đó, mọi thứ chìm vào im lặng… Một không khí im lặng của bất lực trước kẻ thù nhưng bất cần trước dân chúng.
Người Philippines quỳ hay đứng?
Trong vụ Hải Dương 981, Bộ Chính trị Việt Nam - nghe nói đã họp nhiều lần về Biển Đông và về ý định liên kết với người Philippines theo một đề nghị của Manila về cùng đối phó Trung Quốc - vẫn như gà mắc tóc. Thậm chí kỳ họp giữa năm 2014 của Quốc hội Việt Nam đã khiến hàng chục ngàn người đổ ra đường biểu tình phản đối Trung Quốc ở Sài Gòn và Hà Nội phải phẫn nộ: ở mức độ tối thiểu cần có một bản nghị quyết về Biển Đông, Quốc hội Việt Nam vẫn tuyệt đối câm nín.
Song hiện thực ngược ngạo là không phải “láng giềng gần” Trung Quốc mà chính những “bà con xa” như người Mỹ và những quốc gia đồng minh quân sự với Mỹ như Nhật Bản và Philippines lại trở thành giá đỡ cho tinh thần suy sụp của giới lãnh đạo Việt Nam. Vào tháng 7 năm 2014, không phải Quốc hội Việt Nam mà chính Quốc hội Hoa Kỳ lần đầu tiên tung ra một nghị quyết mạnh mẽ về Biển Đông như một đòn dằn mặt tham vọng của Trung Quốc.
Cũng kể từ giữa năm 2014, Philippines bắt đầu đạt được tiến bộ khả quan tại Liên hiệp quốc trong vụ kiện đường lưỡi bò của Trung Quốc. Tháng 8 năm 2014, Philippines mạnh tay đưa 12 ngư dân Trung Quốc ra tòa để tuyên phạt nhiều năm tù vì đánh bắt hải sản trái phép trong vùng biển thuộc chủ quyền của nước này. Sau sự kiện chấn động đó, Bắc Kinh đã không hề lồng lộn lên như vẫn thường đối xử với Hà Nội.
Bản lĩnh vượt mặt Việt Nam ấy không phải mang tính đột biến mà được tích lũy qua thời gian. Sau vụ “bắt Trung Quốc” trên, Manila đã có một hành động pháp lý vượt hơn hẳn cao vọng “kiện Trung Quốc” của giới đảng, nhà nước và chính phủ Hà Nội: Philippines đã chính thức kiện Bắc Kinh ra tòa án quốc tế và đã giành được thắng lợi.
Nhưng hoàn toàn tương phản với thế đứng dũng mãnh của người Phi, từ đó tới nay giới chóp bu Việt Nam đã không có bất cứ động tác đủ kiên quyết nào kiện Trung Quốc ra Tòa án quốc tế về “Đường lưỡi bò”. Về thực chất, Việt Nam đã lỡ mất cơ hội và gần như vẫn nằm nguyên trong mớ lục đục tủi hổ.
Giờ đây, sự thể đang dồn lên vai chính thể Việt Nam tất cả những gì tối thiểu thuộc về danh thể. Mãi cho tới gần đây, điều đáng phẫn nộ là xã hội Việt Nam vẫn phải thưởng thức món ăn từ ngữ “tàu lạ” của loa tuyên giáo mà không thoát nổi cơn nghẹn họng. Không có bất cứ động tác truy xét nào mà từ đó tìm ra được dung nhan kẻ gây hấn giết hại ngư dân, các cơ quan hữu quan Việt Nam đã quỳ mọp trong nỗi xấu hổ và tự ti vô cùng tận trước thế đứng thẳng người của đất nước Philippines.
‘Chống giặc bằng cờ, chống ngập bằng lu…’
Khi không khí “kiện Trung Quốc ra Tòa án quốc tế” đã dần lịm tăm, những tin tức về ngư dân Việt Nam bị phá sản lại càng lan truyền khắp nơi. Không một vũ khí trong tay và còn chưa được vay vốn với lãi suất thấp để đóng tàu vỏ sắt như lời hươu vượn của giới quan chức cao cấp lẫn các đại gia ngân hàng “ngồi mát ăn bát vàng”, nhiều gia đình ngư dân Việt đang phải bó gối nhìn tôm cá lũ lượt chui vào lưới tàu Trung Quốc.
Rất nhiều lần người dân phải gào lên: Quân chủng Hải quân Việt Nam đã đầy “dũng khí bám bờ” như thế nào, trong lúc đồng bào ngư dân của họ vẫn phải kiên trì bám biển. Cái cách mà thỉnh thoảng chính quyền lại tặng/phát cờ đỏ sao vàng cho ngư dân bị xem là hình ảnh bôi bác nhất về tinh thần ‘bảo vệ Tổ quốc’.
Vụ giàn khoan Hải Dương 981 năm 2014, vụ Bãi Tư Chính các năm 2017, 2018 và giờ đây là 2019…, nhưng vẫn chẳng có bất kỳ dấu hiệu đáng được tin cậy nào cho thấy ‘đảng em’ Việt Nam dám lôi bộ hồ sơ từ ngăn kéo đầy bụi để đệ trình ra tòa án quốc tế để kiện ‘đảng anh’ Trung Quốc. Trong lúc đó, ‘đối tác chiến lược toàn diện quan trọng nhất’ ở phương Bắc - như cách ca tụng ngút ngàn mây xanh của giới chóp bu Việt Nam cùng phụ họa bởi những quan chức ‘cõng rắn cắn gà nhà’ nhưng luôn giấu biệt mặt mũi, vẫn không ngớt hành hạ tinh thần và thể xác của ‘đứa con hoang đàng’ - một cụm từ miệt thị khinh bỉ mà Ủy viên Quốc Vụ Viện Trung Quốc là Dương Khiết Trì đã dùng để đặc tả những kẻ chỉ biết đi và nhận thức bằng đầu gối ngay tại Hà Nội vào năm 2014.
Giờ đây, trên khắp rẻo đất ‘lệ tuôn hình chữ S’ chỉ còn sôi réo câu vè dân gian ‘Chống giặc bằng cờ, chống ngập bằng lu, đứa nào nói đảng ngu là thằng phản động’…
Đáng suy ngẫm
1 giờ ·
Mình đã từng chia sẻ
bài viết này về FB của mình, nay thấy lại nên lại tải về lần nữa. Nhân dân mình
yêu nước thương nòi, thường đồng tâm nhất trí hợp sức cứu nước lúc có giặc
ngoại xâm. Trong lịch sử ngàn năm chưa bao giờ có chuyện người dân thờ ơ với
vận nước. Lịch sử nói về thời Nhà Nguyễn để Pháp chiếm nước ta làm thuộc địa
thì có nói Nhà Nguyễn hèn nhát để mất nước và khi đi học từng đã đọc những bài
thơ có câu "quan quân bán nước triều đình khi dân", nay câu chuyện
này ...
3 giờ ·
Hồi còn nhỏ tôi được
học một bài ca dao:
” Con cò đậu ở bờ
tre/
Thằng Tây nó bắn
cò què một chân/
Mai cò ra chợ Đồng
Xuân/
Chú khách mới hỏi
sao chân cò què/
Cò rằng tôi đứng
bờ tre/
Thằng tây nó bắn
tôi què một chân”
Bài ca dao này cứ ám ảnh
tôi mãi, không phải vì nó có nội dung hay nghệ thuật đặc sắc gì mà vì thông
điệp không rõ ràng của nó đối với người đọc. Tôi nhớ sách giáo khoa (không nhớ
rõ lớp nào và năm nào) có giải thích: – qua nhân vật con cò tố cáo tội ác của
giặc Pháp!
Tuy nhiên, ”con cò” ở
đây không hề có thái độ thù hằn gì “Thằng tây” cả, thậm chí, cũng không thực sự
đau buồn hay giận dữ!. Đổi lại, thái độ của ”cò” hoàn toàn dửng dưng: ”- cò
rằng tôi đứng bờ tre/ thằng tây nó bắn tôi què một chân”! Hết!
Thái độ dửng dưng này
là một dấu hỏi lớn trong tâm trí tôi suốt thời đi học. Sau này được tiếp cận
một khối lượng lớn thông tin và qua suy xét của bản thân tôi dần dần nghiệm ra
ý tứ sâu xa mà tác giả vô danh muốn gửi tới người đọc.
Bài ca dao trên gắn
với một giai đoạn đau buồn trong lịch sử dân tộc, đó là khi thực dân Pháp xâm
lược nước ta vào cuối thế kỷ XIX.
Xem lại lịch sử giai
đoạn này, ngoài quyết tâm đánh pháp của Trương Công Định và các văn thân, sỹ
phu với nhưng tấm gương hy sinh anh dũng (thực ra cả Triều đình Nhà Nguyễn cũng
quyết tâm đánh Pháp) còn có các sự kiện khác mà người Việt Nam có lương tri nào
khi xem lại cũng cảm thấy xấu hổ.
Chỉ có 120 binh lính
Pháp do một đại úy chỉ huy cộng với vài chục lính mộ người Việt và người một số
nước Châu Á khác đi theo hỗ trợ(10 người âu, 30 người châu á, 150 lính mộ Vân
Nam) cùng với 08 khẩu pháo mà hạ thành Hà Nội do một vị đại tướng của Việt Nam
chỉ huy với 7 ngàn quân, chỉ trong nháy mắt! (chưa đến 1 tiếng đồng hồ trong
ngày 20/11/1873)
Đại úy Garnier yêu cầu
nộp thành, ta không theo. Y ra lệnh công thành. Nên nhớ, quân ta đông gấp vài
chục lần quân Pháp, lại là một dân tộc văn minh chứ không còn ở giai đoạn bán
khai như người da đen ở châu Phi hay còn dùng công cụ đồ đá như người Azteca ở
Mexico. Nếu xáp chiến thì chỉ cần dùng quả đấm cũng có thể đè bẹp quân Pháp.
Nên nhớ vũ khí thời đó của quân Pháp cũng khá thô sơ. Tiếc thay, chỉ vài loạt
đạn của quân Pháp quân ta vứt súng chạy như vịt còn trơ lại vị Tổng đốc bị
thương. Con trai Cụ là Nguyễn Lân cũng bị bắn chết.
Các sự khiện tiếp theo
còn bi thảm hơn. Ngày 05/12/1873, chỉ có 7 lính Pháp và 2 lính mộ đi ca nô đến
thành Ninh Bình bắt quan tuần phủ và hạ thành; lúc đó trong thành có 1700 quân
trấn giữ.
Chỉ có 50 lính pháp và
một số lính mộ tấn công thành Nam Định có hàng ngàn quân. Việc quân Pháp dùng
ngay các thanh chướng ngại làm thang leo lên mặt thành cũng đủ thấy sức kháng
cự của quân ta không đáng kể. Thành Hải Dương còn thất thủ một cách khôi hài
hơn. Chỉ có hơn hai chục lính pháp tấn công thành; táo tợn đến mức đu người lên
cánh cửa để nhòm vào trong thành. Sau vài loạt đạn, lãnh binh Vi Văn Đông vội
vàng bỏ trốn, quan binh thấy thế cũng trốn sạch. Quân Pháp phá cổng vào thành,
thành mất.
***
Tại sao một dân tộc đã
từng đánh thắng hàng vạn quân Tống, Nguyên, Minh, Thanh lại bạc nhược như vậy.
Cũng vẫn dân tộc ấy thôi 80 năm sau, bằng vũ khí cũng kém hơn đã đánh bại chính
đế quốc pháp trang bị tối tân hơn nhiều?!
Nhiều người cho rằng
ta thua Pháp vì súng đạn ta không bằng Pháp. Điều đó không sai nhưng thực ra
không hoàn toàn đúng. Súng đạn của quân Nhà Nguyễn cũng được nhập từ phương Tây
và chỉ thua súng đạn của pháp một thế hệ. Thậm chí bằng lò rèn thủ công mà ông
Cao Thắng ở núi rừng Vụ Quang còn chế tạo được gần giống súng của Pháp.
Ta thua pháp về tổ
chức chiến tranh nhưng điều này có thể học hỏi và thay đổi được vì cuộc chiến
tranh pháp – việt kéo dài 30 năm (1859 – 1888).
Nguyên nhân lớn nhất
dẫn đến thất bại của người Việt Nam chính là sự thờ ơ của đa số người dân trước
thời cuộc, trước vận mệnh của đất nước.
Trở lại bài ca dao,
người dân ở đây được hình tượng hoá ở hình ảnh con cò. Cò ta đứng ở bờ tre để
xem quan quân triều đình đánh nhau với Tây. Cò dửng dưng như người ngoài cuộc
đứng xem một việc không liên quan đến mình. Không may ”thằng Tây” nó bắn phải
”cò”, thế thôi!
Người dân dửng dưng
trước thời cuộc, trước nguy cơ mất nước vì xã hội Việt Nam đã chia rẽ sâu sắc.
Nguyễn Hàn Ninh có bài thơ vịnh đèn kéo quân rất hay nói lên thực trạng của xã
hội Việt Nam lúc bấy giờ là:
” Một lũ ăn mày, một
lũ quan/
Quanh đi quẩn lại chỉ
một đoàn”
Thân phận người lính
cũng vậy:
”Ngày thì canh điếm,
tối dồn việc quan/
đẽo tre đẵn gỗ trên
ngàn…”.
Các quan chỉ coi lính
như lũ người hầu, làm việc không công: ”nước sông công lính”. Ngay các quan
cũng chẳng quan tâm gì đến việc luyện tập, võ bị. Lực lượng vũ trang bị coi
thường:
”Văn thì thất phẩm đã
sang/
Võ thì tứ phẩm còn
mang gươm hầu”.
Tựu trung, quan lại là
lũ người chỉ nghĩ đến mình, ra tay vơ vét, chiếm đoạt. Người dân đã nhìn rõ
thực trạng này về hàng ngũ công chức bất tài, vô hạnh này:
”Khi bình làm hại dân
ta/
Túi tham vơ vét chẳng
tha thứ gì/
Đến khi hoạn nạn lâm
nguy/
Mặt trông lơ láo, chân
đi tập tềnh!”
Rồi:
” Đồn rằng quan tướng
có danh/
Cưỡi ngựa một mình
chẳng phải vịn ai”
Ông Ích Khiêm phải kêu
lên:
” Áo chúa cơm vua
hưởng bấy lâu/ Đến khi đánh giặc phải nhờ Tầu…”
Trong tình hình quan
chức như vậy, người dân vừa khinh vừa ghét. ”Cò” không nói ra nhưng có khi còn
hả hê trưóc cảnh quan quân bị Tây bắn, chạy như vịt:
”- Cho chúng mày chết!”
”- Cho chúng mày chết!”
Một dân tộc đã chia rẽ
như vậy thì mất nước là tất yếu!
***
Khác hẳn 600 năm trước
khi giặc mạnh phương Bắc lăm le cướp nước, chính quyền đã mở hội nghị Diên Hồng
để tạo sự đồng thuận toàn dân; mở hội nghị Bình Than để thống nhất ý chí của
quý tộc.
Điều đó cho thấy, đối
diện với nguy cơ mất nước càng cần đối thoại để thống nhấ ý chí. Muốn có đối
thoại cần có sự tôn trọng lẫn nhau giữa các chủ thể trong xã hội. Điều này Nhà
Nguyễn đã không làm được. Những vị vua dốt nát, yếu đuối và đội ngũ quan lại
tham nhũng, bất tài, mua quan bán tước của nhà Nguyễn không thể nào trở thành
hạt nhân đoàn kết dân tộc được nữa. Họ không làm được điều các quý tộc nhà Trần
đã làm. Quý tộc Nhà Trần là những anh hùng, hào kiệt, con cháu của những người
bình dân chài lưới mới chiếm được chính quyền từ tay Nhà Lý rệu rã bằng võ công
và trí tuệ.
Giữa những trang hào
kiệt:
” Một gánh càn khôn
quẩy xuống ngàn/
Hỏi rằng chi đó bảo
rằng than!”
Và lũ công chức tham
nhũng, bạc nhược là khoảng cách rất xa về chất người.
Chúng ta vẫn có thể
thua Pháp vì trình độ phát triển của họ lúc bấy giờ hơn hẳn ta nhưng thua như
kiểu vua quan nhà Nguyễn là một nỗi nhục lớn lao mà không nên quên. Bởi vì nếu
quên, nếu cố tình không sòng phẳng với lịch sử có thể dân tộc Việt Nam lại lặp
lại sai lầm tương tự trong tương lai./.
Lập Quyền Dân xin dâng câu đối tiễn biệt Ts Địa vật lý-Nhà thơ Nguyễn Thanh Giang
Ts Địa vật lý-Nhà thơ Nguyễn Thanh Giang sinh năm 1936, đã từ trần ngày 28-7-2019.Ông từng là uv Ban Thường vụ Hội Địa Vật lý Việt Nam.Hội viên Hội Địa Vật lý thăm dò Hoa kỳ.Ông là nhà tư tưởng Dân chủ, có tiếng nói được tôn trọng trong dư luận xã hội.Lễ viếng từ 7 giờ 30 đến 9 giờ 30 ngày 2-8-2019 tại Nhà tang lễ Cầu Giấy Phố Trần Vĩ Hà nội.
Kính viếng Ông Lập Quyền Dân xin dâng câu đối
Thanh thản ra đi để lại Mẫu Quặng Dọc Đường.
Giang sơn còn đó Lấp Lánh Đêm Dày suy tư
Chủ Nhật, 28 tháng 7, 2019
TUYÊN BỐ BIỂN ĐÔNG
Tuyên bố về Biển Đông (lần thứ Ba)
Cập nhật đến sáng 27/07/2019 với 10 tổ chức, 593 cá
nhân ký tên
Các tổ chức và cá
nhân đồng ý ký tên xin ghi rõ: Tên tổ chức và tên người đại diện/ Tên cá nhân
và chức danh/nghề nghiệp (nếu có), tỉnh/thành (và quốc gia nếu ở nước ngoài)
đang cư trú. Gửi về địa chỉ email: tuyenbobiendong3@gmail.com
Chấm
dứt nhận chữ ký lúc 20 giờ ngày 30/7/2019 (giờ VN)
Từ ngày 3 đến 21
tháng 7 năm 2019, Trung Quốc ngang nhiên đưa tàu thăm dò Hải Dương 8 với sự hộ
tống của nhiều tàu cảnh sát biển và dân quân biển xâm nhập Vùng Đặc quyền kinh
tế và Thềm lục địa Việt Nam tại khu vực bãi Tư Chính, Vũng Mây, nơi Việt Nam
đang thực hiện các hoạt động dầu khí của mình theo đúng Công ước của Liên Hiệp
Quốc về luật biển (UNCLOS). Đây là một hành động rất nguy hiểm đối với an ninh,
hoà bình của khu vực; tiếp tục leo thang trong quá trình nhất quán thực hiện
tham vọng bá quyền biển Đông của Trung Quốc.
Cuộc xâm nhập tiến
hành đúng vào thời điểm Chủ tịch Quốc hội Trung Quốc Lật Chiến Thư mời Chủ tịch
Quốc hội Việt Nam Nguyễn Thị Kim Ngân thăm hữu nghị chính thức. Đó là động tác
chà đạp lên những nguyên tắc ngoại giao tối thiểu, chứng tỏ những lời nói hữu hảo
của Trung Quốc chỉ nhằm che đậy những hành động thù địch của họ.
Sau nhiều lần cố gắng
tỏ thiện chí, ngày 19 tháng 7 năm 2019 Bộ Ngoại giao Việt Nam đã phải lên tiếng
mạnh mẽ phản đối Trung Quốc về hành vi xâm phạm chủ quyền Việt Nam. Ngày 20
tháng 7 năm 2019 Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ mạnh mẽ yêu cầu Trung Quốc ngưng ngay
hành động bắt nạt và can thiệp với hoạt động theo dạng khiêu khích và gây bất ổn
tại Biển Đông. Tuy nhiên đến ngày 22 tháng 7 năm 2019, quan sát viên quốc tế vẫn
ghi nhận sự có mặt của các tàu Trung Quốc trong vùng đặc quyền kinh tế (EEZ) của
Việt Nam theo UNCLOS.
Trải qua 4000 năm
biến động của lịch sử, dân tộc Việt Nam vẫn đứng vững bên bờ Thái Bình Dương.
Nguyễn Trãi người anh hùng dân tộc đã nói: “Dẫu cường nhược có lúc khác nhau
song hào kiệt đời nào cũng có”.
Người Việt Nam từ
nhiều đời ông cha luôn có cách xử sự mềm dẻo với một nước lớn ở sát bên mình,
nhưng không bao giờ đánh mất lòng tự tôn tự hào của một dân tộc anh hùng.
Đất nước đang đứng
trước tình hình rất nguy hiểm. Chiến tranh có thể nổ bất kỳ lúc nào. Nhân dân
Việt Nam quyết tự bảo vệ đất nước mà không biến thành con cờ của các thế lực
ngoại quốc.
Chúng tôi, các tổ
chức xã hội dân sự và cá nhân có tên dưới đây ra tuyên bố yêu cầu Nhà nước Việt
Nam:
1. Tăng cường nội lực
của đất nước làm chỗ dựa cho an ninh quốc phòng, thực hiện kế sách giữ nước của
Đức Thánh Trần Hưng Đạo: “Khoan thư sức dân để làm kế sâu rễ bền gốc”. Làm tất
cả những gì có lợi cho mối đoàn kết dân tộc trong và ngoài nước; thực thi các
điều ước quốc tế mà Việt Nam đã cam kết và những điều được qui định trong Hiến
pháp Việt Nam. Trả tự do cho tất cả tù nhân lương tâm, sửa các luật phản dân chủ
như: luật đất đai, luật báo chí, luật an ninh mạng, ban hành luật lập hội, luật
biểu tình... Tiến tới một Nhà nước Việt Nam có thể chế dân chủ pháp quyền phổ
quát. Nâng cao sức chiến đấu và lòng trung thành bảo vệ Tổ quốc, bảo vệ Nhân
dân của Quân đội, đặc biệt là Hải quân, Cảnh sát biển.
2. Trong các mối quan
hệ với Trung Quốc, đặc biệt là quan hệ kinh tế thương mại, phải hết sức cẩn trọng,
đề cao cảnh giác, đặt quyền lợi quốc gia trên hết.
3. Khẩn trương đẩy mạnh
hợp tác quốc phòng với Hoa Kỳ và các nước tôn trọng luật pháp quốc tế và hiện
không cưỡng chiếm đất đai biển đảo của Việt Nam nhằm bảo vệ tổ quốc một cách hiệu
quả.
4. Lên tiếng tố cáo
trước Hội đồng Bảo an, Đại hội đồng Liên Hiệp Quốc và các tổ chức quốc tế việc
Trung Quốc xâm phạm chủ quyền, quyền chủ quyền, quyền tài phán trong vùng đặc
quyền kinh tế, thềm lục địa của Việt Nam ở khu vực bãi Tư Chính, Vũng Mây… vi
phạm Công ước của Liên Hiệp Quốc về luật biển (UNCLOS). Khẩn trương chuẩn bị hồ
sơ kiện Trung Quốc ra các Toà án Quốc tế thích hợp.
5. Thông tin thường
xuyên và kịp thời diễn biến tình hình biển Đông cho toàn thể nhân dân Việt Nam
và thế giới, tranh thủ sự đồng thuận của công luận cho cuộc chiến đấu bảo vệ chủ
quyền của Việt Nam. Mặt khác, Nhà nước Việt Nam không được ngăn cản quyền công
khai bày tỏ một cách ôn hoà lòng yêu nước, ý chí bảo vệ Tổ quốc của người dân
Việt Nam.
Ngày
25 tháng 7 năm 2019
DANH
SÁCH KÝ TÊN
A. Các
tổ chức
Đợt
1
1. Nhóm lập quyền dân. Đại diện: Nhà
nghiên cứu Nguyễn Khắc Mai
2. Câu lạc bộ Lê Hiếu Đằng. Đại diện: Nhà
hoạt động xã hội Lê Thân, Chủ nhiệm CLB
3. Diễn đàn xã hội dân sự. Đại diện: Tiến
sĩ Nguyễn Quang A
4. Diễn đàn Bauxite Việt Nam. Đại diện: GS
Phạm Xuân Yêm.
Đợt
2
5. Tổ chức Người Bảo vệ Nhân quyền (Defend
the Defenders). Đại diện: Thạc sỹ giám đốc Vũ Quốc Ngữ
6. Hội Bầu bí Tương thân: Đại diện Nguyễn
Lê Hùng
Đợt
3
7. Nhóm Hoạt Động ủng hộ Quốc Dân Việt. Đại
Diện: Đoàn Văn Lập, San Jose, CA Hoa Kỳ.
8. Hội Nhà Giáo Chu Văn An. Đại diện Vũ Quốc
Hùng
9. Diễn đàn Vietnam 21 tại CHLB Đức. Đại
diện: Tiến Sĩ Dương Hồng Ân
Đợt 4
10. Phong trào Dân quyền. Đại diện: Lê Văn
Kiên - tại Anh Quốc
B. Cá
nhân
Đợt
1
1. Nguyễn Quang A, Tiến sĩ Tin học, Hà Nội
2. Nguyễn Khắc Mai, Trung tâm Minh Triết,
Hà Nội
3. Nguyễn Thị Kim Chi, Nghệ sĩ Ưu tú, Câu
lạc bộ Lê Hiếu Đằng, Sài Gòn
4. Kha Lương Ngãi, nguyên phó TBT báo
SGGP, Sài Gòn
5. Trần Minh Thảo, CLB Phan Tây Hồ, viết
văn, Bảo lộc, Lâm đồng
6. Hoàng Hưng, nhà thơ-dịch giả, Sài Gòn
7. Đào Công Tiến, PGS TS nguyên Hiệu trưởng
trường Đại học Kinh tế tp HCM
8. Hồ Ngọc Nhuận, nhà báo Sài Gòn
9. Vũ Trọng Khải, PGS. TS, chuyên gia độc
lập về chính sách nông nghiệp, Sài Gòn
10. Phạm Hoàng Tam Lưu, kiến trúc sư,
Saigon
11. Võ Văn Thôn, nguyên Giám đốc sở Tư
pháp thành phố HCM
12. Nguyễn Nguyên Bình, nhà văn Hà Nội,
thành viên CLB LHD
13. Nguyễn Hữu Vinh (Ba Sàm), Hà Nội
14. Dương Đình Giao, nhà giáo nghỉ hưu, Hà
Nội
15. Hoàng Anh Khiêm, giảng viên đại học,
TP. HCM
16. Nguyễn Viện, nhà văn Sài Gòn
17. Phạm Nguyên Trường, dịch giả, Vũng Tàu
18. Phạm Anh Tuấn, dịch giả tự do, Hà Nội
19. Nguyễn Tuệ Hải, Hưu trí, Canberra-
Australia
20. Nguyễn Gia Lưu, Sài Gòn, Việt Nam
21. Nguyễn Quang Nhàn, CBL Phan Tây Hồ, Đà
Lạt
22. Nguyễn Đăng Hưng, GS Danh dự Đại học
Liège, Bỉ. Sống tại Sài Gòn
23. Dương Khánh Lâm, nhân viên kỹ thuật,
Sài Gòn.
24. Tiêu Dao Bảo Cự, nhà văn tự do, Đà Lạt
25. Nguyễn Huệ Chi GS Ngữ văn, Hà Nội
26. Đặng Thị Hảo, TS Văn học, Hà Nội
27. Nguyễn Đình Nguyên, TS Y khoa,
Australia
28. Phùng Hoài Ngọc, cựu giảng viên đại học,
tỉnh An Giang.
29. Nguyễn Xuân Nghĩa, TS, nhà giáo, Sài
Gòn
30. Võ Văn Tạo, nhà báo, Nha Trang
31. Lê Thăng Long, nghiên cứu quản trị chiến
lược, cựu tù nhân lương tâm, Quận 1, Sài Gòn.
32. Trần Tiến Đức, nhà báo độc lập, đạo diễn
truyền hình và phim tài liệu, Hà Nội
33. Hoàng Thị Hà, giáo viên hưu trí, Thanh
Xuân, Hà Nội
34. Lê Quang Hợp, nghỉ hưu, tại TPHCM
35. Nguyễn Hàn Chung, nhà thơ, Houston
Texas Hoa Kỳ
36. Tô Lê Sơn, thành viên CLB Lê Hiếu Đằng,
Sài Gòn
37. Đặng Hữu Nam, linh mục, Giáo phận Vinh
38. Đặng Văn Lâp, kiến trúc sư, Hà Nội
39. Sơn Hồ, Freelancer, Đảo Rhode, Hoa Kỳ
40. Hoàng Dũng, PGS TS, TP HCM
41. Hoàng Cường, kỹ sư giao thông, Hà Nội
42. Nguyễn Đình Cống, GS, hưu, Hà Nội
43. Nguyễn Mạnh Sơn, cán bộ hưu trí, Hải
Phòng
44. Nguyễn Viết Dũng, công dân Việt Nam,
Hà Nội
45. Phạm Lưu Vũ, nhà văn, Hà Nội
46. Vi Đức Hồi, Lạng Sơn
47. Nguyễn Tiến Dân, nhà giáo, Hà nội.
48. Hoàng Anh Khiêm, giảng viên đại học,
TP. HCM
49. Phan Thanh Liêm, công dân nước CHXHCN
Việt Nam, kinh doanh bất động sản
50. Đinh Quang Tuyến, Q.8, Tp HCM
51. Nguyễn Lương Thịnh, hưu trí, Thủ Đức
Tp HCM
52. Nguyễn Ngọc Hùng, hưu trí
53. Trần Kế Dũng. Australia
54. Nguyễn Ngọc Ánh, nghề nghiệp tự do, Bảo
Lộc Lâm Đồng.
55. Phạm Thế Cường, sĩ quan quân đội nghỉ
hưu
56. Nguyễn Kế Quang, KS Xây dựng, TP Quy
Nhơn, tỉnh Bình Định
57. Nguyễn Đình Ấm, nhà báo, Hà Nội
58. Hà Quang Vinh, hưu trí Quận 11, Tp HCM
59. Phan Đắc Lữ, nhà thơ, Q. Thủ Đức Sài
Gòn
60. Nguyên Ngọc, nhà văn, Hội An
61. Đoàn Công Nghị, hành nghề tự do, Nha
Trang, Khánh Hoà
62. Đỗ Duy, chuyên viên kỹ thuật, Bà Rịa -
Vũng Tàu
63. Nguyễn Chí Công, TS, Hà Nội
64. Nguyễn Trọng Bách, kĩ sư, Nam Định
65. Nguyễn Thu Giang, nguyên Phó Giám đốc
Sở Tư pháp TPHCM
66. Nguyễn Văn Lịch, cựu lính xe tăng, Đống
Đa, Hà Nội.
67. Nguyễn Ngọc Lanh, Nguyên GS đại học Y
Hà Nội, NGND
68. Vũ Quốc Hưng, giáo viên trường THPT
Nguyễn Hữu Tiến, Duy Tiên, Hà Nam
69. Nguyễn Thị Khánh Trâm, nghiên cứu
viên, hưu trí Tp HCM
70. Võ Thị Cẩm Nhung, hưu trí, Nha Trang
71. Vũ Ngọc Tiến, Nhà văn, Hà Nội
72. Vũ Hồng Ánh, nghệ sĩ cello, Sài Gòn
73. Võ Xuân Tòng, Hội Nhà văn Hà Nội
74. Trần Trung Hậu, giảng viên, TP.HCM
75. Đỗ Như Ly, hưu trí, Quận 10
76. Phạm Đình Trọng, nhà văn, Sài Gòn
77. Thái Kế Toại, Đại tá An ninh, nhà văn,
Hà Nội
78. Dương Sanh, nghề nghiệp tự do, Vạn
Ninh, tỉnh Khánh Hòa.
79. Nguyễn Kim Khánh, lao động tự do. Sài
Gòn
80. Hứa Minh Hải Đăng, lao động tự do. Tp.
Đà Lạt, Lâm Đồng
81. Liêu Thái, lao động tự do, Quảng Nam
82. Lương Xuân Bằng, công nhân xây dựng tự
do, Cần Thơ
83. Đinh Công Khải, họa sỹ
84. Nguyễn Ngọc Ngân Nga, kinh doanh,
TPHCM
85. Huỳnh Phi Long, công dân Sài Gòn
86. Nguyễn Khắc Bình, kỹ sư, Hà nội
87. Dạ Ngân, nhà văn, Sài Gòn
88. Nguyễn Thịnh Phú, Hà nội
89. Đỗ Trung Quân, nhà thơ, Sài Gòn
90. Phạm Thị Hảo, hưu trí, Thái Nguyên
91. Ngô Thị Hồng Lâm, nghiên cứu khoa học
nghỉ hưu, Vũng Tàu
92. Phạm Cường, đạo diễn phim, Hamburg
CHLB Đức
93. Nguyễn Việt Hải, Học sinh C. 3 An
Dương. Hải phòng
94. Phạm Thị Ánh Nga, Nha Trang, Khánh Hòa
95. Đinh Đức Long, Bác sĩ, Sài Gòn, Việt
Nam.
96. Tô Linh Giang, Phố Hàng Chuối, Hà Nội
97. Trần Bang, kỹ sư, thành viên CLB LHĐ,
Sài Gòn
98. Ngô Kim Hoa (Sương Quỳnh), nhà báo tự
do, Sài Gòn
99. Lại Thị Ánh Hồng, nghệ sĩ, Sài Gòn
100. Lại Nguyên Ân, nhà nghiên cứu văn học,
Hà Nội
101. Mai Thái Lĩnh, nhà nghiên cứu, CLB
Phan Tây Hồ, Đà Lạt.
102. Bùi Hiền, hưu trí, tại Canada
103. Bùi Công Tự, Hưu trí, TP HCM
104. Nguyễn Công Hiệp, kinh doanh tự do,
Quận 2
105. Đỗ Việt Tuy, cây viết tự do, Sài Gòn
106. Phạm Phương Luyện, Giảng viên chính Đại
học Ngoại ngữ ĐHQG (hưu trí)
107. Trương Hoàng Long, Hà Nội
108. Hà Trọng Tấn, CLB Lê Hiếu Đằng, Sài
Gòn.
109. Huỳnh Văn Bé, nghệ nhân gốm, Bình
Dương
110. Phạm Gia Minh, TS Kinh tế, Hà nội
111. Võ Công Trí, hưu trí, Hóc Môn, Tp HCM
112. Lê Đình Lưu, nuôi trồng nấm, Củ Chi,
Tp HCM
113. Nguyễn Thị Cát Tiên, buôn bán tự do,
Q7, Tp HCM
114. Cao Thị Hoàng Ngọc, giáo viên Trung
tâm tiếng Anh Q7, Tp HCM
115. Ngô Văn Nam, tài xế, Q2, Sài Gòn
116. Phan Văn Đức, chuyên viên tài chính,
TDM, Bình Dương
117. Lý Thị Dung, kinh doanh online, Q3,
Tp HCM
118. Lê Văn Năm, kiến trúc sư, Hà Nội
119. Tạ Quang Trí, công an nghỉ hưu, Q9,
Tp HCM
120. Dương Chí Cao, hưu trí, Q12, Tp HCM
121. Hồ Nguyễn Hoàng Nguyên, lái xe đường
dài, Thanh Hóa
122. Trần Văn Chấn, kỹ sư dầu khí, Bà Rịa
– Vũng Tàu
123. Nguyễn Quang Nhàn, CLB Phan Tây Hồ -
Đà Lạt
124. Lê Văn Mẫn, CLB hưu trí, Q12, Sài Gòn
125. Nguyễn Đức Tùng, nhà thơ, Canada
126. Chân Phương, nhà thơ, Hoa Kỳ
127. Hà Sĩ Phu, TS Sinh học, CLB Phan Tây
Hồ, Đà Lạt
128. Lê Văn Tâm, nguyên Chủ tịch Hội người
Việt Nam tại Nhật Bản
129. Trần Hoàng Phố, nhà thơ, Huế
130. Tôn Gia Khai, nghỉ hưu, Varsaw Ba Lan
Đợt
2.
131. Đặng Minh Liên, hưu trí, Hà Nội
132. Nguyễn Minh Phát, Ontario, Canada
133. Trần Nghi Hoàng, nhà văn, nhà báo. Pennsylvania, Hoa Kỳ.
134. Khánh Phương, nhà văn, nhà báo. Pennsylvania, Hoa Kỳ.
135. Trương Minh Thủy, người lao động, Q.Tân Phú, TPHCM
136. Đào Tiến Thi, Nhà nghiên cứu ngôn ngữ và văn học, nguyên Uỷ viên BCH Hội Ngôn ngữ học Việt Nam, Hà Nội.
137. Nguyễn Mạnh Hùng, Mục sư, Thủ Đức, Sài Gòn
138. Trần Đức Quế, hưu trí, Hà Nội
139. Nguyễn Tất Hanh, Hải Phòng
140. Lê Quý Hồ, kế toán - kiểm toán, Thị trấn Hà Lam, Thăng Bình, Quảng Nam.
141. Phan Xuân Sinh, nhà thơ, Hoa Kỳ
142. André Menras - Hồ Cương Quyết, nhà giáo Pháp Việt, sống ở Pháp
143. Lê Khánh Luận, TS nguyên giảng viên Đại học Kinh tế Tp.HCM, TV CLB LHĐ
144. Nam Khanh Tran, giao hàng, quận 5, SG
145. Ngô Thị Thứ, Giáo viên nghỉ hưu, TPHCM
146. Terry The Pham, Acelity Canada.
147. Huỳnh Kim Báu, nguyên TTK Hội Tri thức, TP.HCM
148. Trương Hà Vũ, hưu trí, Hà Nội
149. Bùi Minh Quốc, nhà thơ, nhà báo, Đà Lạt
150. TS. Bùi Trong Kiên, Viện Toán học, Viện Hàn lâm KH& CN VN, Hà Nội
151. Phạm Hồng Hà, hưu trí tại Nghệ An
152. Vũ Thu Hương, TS Địa vật lý, TCTy Thăm dò khai thác dầu khí PVEP, Hà Nội
153. Huỳnh Sơn Phước, Nhà báo- nguyên PTBT báo Tuổi Trẻ.
154. Nguyễn Đức Nhân, hưu trí, Sài Gòn
155. Trần Đình Sử, GS văn học, Hà Nội
156. Nguyễn Thị Thanh Bình, nhà văn, Hoa Kỳ
157. Van Pham - IT Technician - Brisbane, Australia
158. Nguyễn Hồng Kiên, nghiên cứu viên, Hà Nội
159. Nguyễn Xuân Hùng, bác sỹ tp Hà Tĩnh, tỉnh Hà Tĩnh
160. Van Tu Thai, kỹ sư CNTT, North Carolina, USA
161. Nguyen Thi Bich Hanh, Giao vien, North Carolina, USA
162. Nguyen Thien An, Hoc sinh, North Carolina, USA.
163. Hồ Quang Huy, kỹ sư Đường sắt, Nha Trang, Khánh Hòa
164. Chiêu Anh Nguyễn, nhà thơ, Sài Gòn
165. Đỗ Đình Oai, giáo viên Thạc sĩ toán học, Thành phố Quảng Ngãi
166. Mã Lam, nhà thơ, Sài Gòn
167. Julia Thủy Nguyễn - Immigaration Officer, Hoa Kỳ
168. Nguyễn Chu Quyết, Nghi Khánh, Nghi Lộc, Nghệ An
169. Ngô Ngọc Trai, luật sư, Giám đốc công ty luật Công Chính
170. Vũ Quốc Ngữ, Thạc sĩ, người hoạt động nhân quyền, nhà báo độc lập
171. Lê Quang Huy, cựu giáo chức, sinh sống ở Sài Gòn
172. Bắc Phong, nhà thơ, Ontario, Canada
173. Vũ Thạch, kỹ sư, Sài Gòn
174. Trần Đĩnh, hưu trí, tác giả Đèn Cù, sống ở Sài Gòn
175. Phan Tú Quỳnh, giáo viên về hưu, Los Angeles, USA
176. Lê Anh Hoài, nhà văn, Hà Nội
177. Đỗ Ngọc Thống, PGS.TS, Hà Nội
178. Dương Thuấn, nhà thơ, nhà nghiên cứu văn hóa, Hà Nội
179. Phan Hữu Thái Bình, kỹ sư điện, Tp. HCM
180. Đặng Quyết Tiến, cựu giảng viên Khoa Ngữ văn trường ĐH SP Thái Nguyên, Thái Nguyên
181. Phạm Xuân Thu, luật gia- doanh nhân, Berlin, CHLB Đức
182. Chu Anh Tuấn, lao động tự do, TP. Vũng Tàu
183. Nguyễn Phượng, giảng viên khoa Ngữ Văn Đại học Sư phạm Hà Nội
184. Nguyễn Phúc Hậu - Sinh viên khoa Văn trường ĐHSP TP. HCM
185. Lê Viết Yên, Sài Gòn
186. Phan Quốc Bình, Nhà thơ, TP. Vinh-Nghệ An
187. Đỗ Hồng Thành, nghiên cứu tự do, Hà Nội.
188. Thuỳ Linh, nhà văn, Hà Nội
189. Lê Thanh Huy, chuyên viên tư vấn, Sài Gòn
190. Đỗ Quang Nghĩa, kỹ sư, Đức
191. Tiết Hùng Thái - dịch giả Hiếu Tân, TP Vũng Tàu
192. Nguyễn Xuân Diện, Tiến sĩ, Hà Nội
193. Nguyễn Tâm, kỹ sư Cơ điện, Tp HCM
194. Nguyễn Thị Ngọc Trai, nhà văn, nhà báo, Hà Nội
195. Phan Thị Châu, nhà báo tự do, Tp.HCM
196. Lê Minh Tâm, hưu trí, Trần Thánh Tông, Tp Thái Bình
197. Nguyễn Tuấn Khanh, nhân viên văn phòng, Tân Bình, Tp Hồ Chí Minh
198. Trần Xuân Hoài, lao động tự do, Hà Nội
199. Nguyễn Tấn Phú (Phu Nepal), nhà nghiên cứu Nam Á, Hiện sống tại Nepal
200. Nguyễn Trọng Chức, nhà báo, P.17, Q. Bình Thạnh, Tp HCM
201. Mai Văn Rê, kinh doanh, Sài Gòn
202. Nguyễn Chí Thuận, kinh doanh tự do, Đà Nẵng
203.Vũ Minh, phường Hoàng Văn Thụ, TP Thái Nguyên
204. Trịnh Hồng Trang, giáo viên hưu trí, Ba Đình, Hà Nội
205. Nguyễn Văn Đức, Lao động tự do, Q.12, TP HCM
206. Vinh Anh, CCB, Đống Đa-Hà Nội
207. Nguyễn Trung Dân, nhà báo, nguyên Q. Tổng Biên tập báo Du Lịch (bị thôi chức năm 2008 do đăng bài báo động TQ chiếm Ải Nam Quan và Biển, đảo), cựu Trưởng Văn phòng NXB Hội Nhà Văn (đã nghỉ hưu).
208. Phạm Kỳ Đăng, làm thơ, viết báo, dịch thuật, CHLB Đức
209. Lê Xuân Thành, kỹ sư, sống tại Nha trang Khánh Hoà
210. Phùng Chí Kiên, Designer, quận Hai Bà Trưng, Hà Nội.
211. Hoàng Nhơn, kinh doanh, ở Sài Gòn.
212. Chu Xuân Hẹ, kinh doanh, Thành phố Đà Nẵng
213. Nguyễn Ngọc Sơn, bác sĩ nghỉ việc, Long Điền, Bà Rịa Vũng Tàu
214. Nguyễn Thị Bích Hoa, nội trợ. Long Điền, Bà Rịa Vũng Tàu
215. Đỗ Thái Bình, kỹ sư đóng tàu, Phó Chủ tịch Hội Công nghiệp Tàu thuỷ Việt Nam, uỷ viên BCH Hội KHKT Biển Tp.HCM
216. Tô Oanh, giáo viên nghỉ hưu, TP Bắc Giang
217. Nguyễn Hoài Sơn, kỹ sư điện tử, Sài Gòn
218. Antoine Nguyen Quang Trung, Linh mục, Gx Vạn Lộc, Giáo phận Vinh
219. Trần Huy Quang, nhà văn, Nghệ An
220. Lê Văn Lâm, Quảng Bình làm việc ở Nhật Bản
221. Nghiêm Ngọc Trai, kỹ sư hưu trí, Hà Nội
222. Lê Phước Sinh, dạy học, Sài Gòn
223. Trịnh Đình Hoà, hưu trí, quận Đống Đa, Hà Nội
224. Nguyễn Văn Hải, Blogger Điếu Cày, cựu TNLT, sống tại Hoa Kỳ
225. Trần Thị Giao Phương, Sài Gòn, Việt Nam
226. Nguyễn Ngọc Giao, nhà giáo nghỉ hưu, Paris, Pháp
227. Nguyễn Quang Lập, nhà văn, Sài Gòn
228. Vũ Minh Vương, Đức Giang, Long Biên, Hà Nội
229. Huỳnh Công Thuận, nhà báo tự do, Sài Gòn
230. Trần Thanh Tuấn, giảng viên, Trường Đại học Khoa học Tự nhiên Hà Nội
231. Nguyễn Thiện, tác giả chương trình “Dân ta biết sử ta”, TPHCM
232. Đinh Vạn Vĩnh Phát, kỹ sư CNTT, Sài Gòn
233. Nguyễn Bá Dũng, hưu trí, Hà Nội
234. Nguyễn Viễn, cử nhân kinh tế, Hà Nội
235. Đinh Tấn Lực, kỹ sư điện lực (đã nghỉ hưu), Quy Nhơn, Bình Định
236. Nguyễn Xuân Độ, cựu chiến binh D 35 F305 tại Quảng Đà, năm 79 tái ngũ chống giặc ở Bình Liêu - Quảng Ninh. Sống tại Hải Dương
237. Trần Đức Thạch, nhà thơ, cựu tù nhân lương tâm, Nghệ An
238. Trương Chí Tâm, Cử nhân y khoa, TP HCM
239. Huỳnh Nhật Hải, hưu trí. Đà Lạt
240. Huỳnh Nhật Tấn, hưu trí. Đà Lạt
241. Thu Phong, nhà văn, Sài Gòn.
242. Hoàng Hải Đăng, nghề nghiệp tự do, Q.1, TP.HCM
243. Đỗ Cao Cường, đạo diễn, phóng viên điều tra
244. Nguyễn Trạch Công, lao động tự do, Nghệ An
245. Võ Tiến Dũng, kỹ sư thiết kế cơ khí, TP. Biên Hòa, Đồng Nai
246. Trần Thị Hường, cán bộ hưu trí, Việt Nam
247. Lê Xuân Diệu, kinh doanh, BMT – Daklak
248. Nguyễn Minh Tân, luật sư, Tp.HCM
249. Lê Xuân Hòa, kỹ sư Dầu khí (đã hưu trí), TP. Vũng Tàu, Bà Rịa - Vũng Tàu
250. Phạm Minh Hoàng, hưu trí, Paris, Pháp
251. Phan Đình Thanh, Oldenburg, Cộng hòa LB Đức
252. Lý Thành Đạt, hưu trí
253. Nguyễn Lê Thu Mỹ, hưu trí
254. Nguyễn Huy Đĩnh, hưu trí, Tiền Giang
255. Lê Trọng Hùng, nhà báo độc lập, Hai Bà Trưng, Hà Nội
256. Vi Nhân Ngãi, công nhân, TP Uông Bí - tỉnh Quảng Ninh
257. Võ Thị Bích Huyền, hưu Trí, TPHCM
258. Nguyễn Đào Trường, hưu trí, Hải Dương.
259. Trần Rạng, nhà giáo, Sài Gòn
260. Nguyễn Hữu Toàn, PGS.TS.BS - Đà Nẵng
261. Nguyễn Chỉnh Huấn, phục vụ tại D126/BTTM-QĐNDVN (thương tật), Bình Chánh
262. Nguyễn Quang Vinh, nguyên Sĩ quan Quân đội nghỉ hưu, Đội Cấn, Hà Nội
263. Hà Văn Thịnh, nguyên giảng viên trường ĐH Khoa học Huế
264. Nguyễn Tường Thụy, nhà báo độc lập, Hà Nội
265. Huỳnh Quang Minh, cử nhân Kinh tế, Quảng Nam
266. Trịnh Hồng Trang, giáo viên hưu trí, Ba Đình, Hà Nội
267. Lê Vinh Quốc, TS Giáo dục, nguyên P. Hiệu trưởng trường ĐH Sư phạm Tp.HCM
268. Phan Quốc Tuyên, kỹ sư Tin học, Genève, Thụy Sĩ
269. Cát Toàn Thắng, kỹ sư Hóa ĐHBKHN, Hà nội.
270. Phạm Nam Hải, Q. Bắc Từ Liêm - TP Hà Nội
271. Phạm Hoàng Phiệt, nguyên Giáo sư ĐH YD TP HCM, Q.1 Tp HCM
272. Nguyễn Vũ Hằng, lao động tự do, Đông Anh, Hà Nội
273. Nguyễn Phương Trung, nghỉ hưu, Hà Nội
274. Nguyễn Văn Nghiêm, lao động tự do, Phương Lâm. Tp Hòa Bình - Hòa Bình
275. Hoàng Thanh Tuấn, kĩ sư Xây dựng, Quận 5, Sài Gòn
276. Lê Anh Dũng - Q10 Saigon
277. Nguyễn Xuân Châu, y tá, USA
278. Trần Thập Nhất, hưu trí, Sài Gòn, Việt Nam.
279. Lý Quốc Huy, công nhân, xã Viên An, Ngọc Hiển, Cà Mau
280. Trần Hồ Dũng, cựu giáo viên, Tacoma, Washington, USA
281. Lê Hoàng Thanh Thủy, cựu giáo viên, Tacoma, Washington, USA
282. Nguyễn Hoàng Kỳ, kinh doanh tự do, TP Vũng Tàu
283. Hoàng Ngọc Lĩnh, hưu trí, B.C Canada.
284. Hoàng Văn Khẩn, Tiến sĩ sinh hoá học, Genève Thuỵ Sĩ
285. Tri Dân - doanh nhân tự do ở Cộng hoà Séc
286. Đặng Bích Phượng, hưu trí, Hà Nội
287. Trần Thị Hương, Germany
288. Nguyễn Thị Thanh Xuân, giảng viên, nghỉ hưu, Sài Gòn
289. Thiếu Khanh, nhà thơ, dịch giả, Sài Gòn
290. Nguyễn Ngọc Huy, nghiên cứu sinh, Nghệ An, đang cư trú: Hoa Kỳ
291. Tương Lai, GS, nguyên Viện trưởng Viện Xã hội học VN, Tp HCM
292. Lê Công Giàu, nguyên Tổng Thư ký Tổng hội Sinh viên Sài Gòn 1966
293. Huỳnh Tấn Mẫm, nguyên Chủ tịch Tổng hội Sinh viên Sài Gòn
294. Hoàng Quân, Plano, Texas, Hoa Kỳ
295. Nguyễn Công Trình, công nhân lao động tại Hàn Quốc
296. Hee-Young Olivia Kim, Hàn Quốc
297. Ngô Xuân Thọ, nghề tự do, Hà nội
298. Đào Thanh Thuỷ, hưu trí, Hà Nội
299. Trần Châu, nông dân Nam Bộ Sài Gòn Việt Nam
300. Đàm Việt Hùng, kỹ sư cầu đường đã nghỉ hưu, TP.HCM
301. Lê Văn Kiệt, TS Khoa học, Bruxelles (Belgium)
302. Nguyễn Anh Quân, công nhân, Lương Sơn - Hòa Bình
303. Minh Cận, công dân Việt Nam, cư trú tại thành phố Đà Nẵng
304. Hồ Thị Liên, hưu trí, P. Thạc Gián, TP. Đà Nẵng
305. Bùi Đức Ngọc, kỹ sư Hoá, hưu trí. Tp. Hồ Chí Minh
306. Lê Phú Chương, Cơ sở sản xuất - gia công sản phẩm thêu thời trang. Q.8, Sài Gòn
307. Nguyễn Thị Mười, hưu trí, Sài Gòn
308. Viet Nguyen, ROV, Lafayette, Louisiana, USA
309. Chu Hảo, Viện Phan Châu Trinh, Hội An
310. Đào Thị Ngọc Trâm, giáo viên nghỉ hưu, TPHCM
311. Trương Minh Tuấn, kinh doanh tự do, Biên Hoà, Đồng Nai
312. Đào Minh Châu, tư vấn Hành chính công và Chính sách công, Hà Nội
313. Lê Minh Đường, hiện sống tại Tp HCM
314. Nguyễn Trọng Cương, Học viện Nông nghiệp Việt Nam
315. Nguyễn Xuân Tùng, Hà Nội Việt Nam
316. Nguyễn Đức Hùng, Cầu Giấy – Hà Nội
317. Nguyễn Đức Long, Giám đốc Cty TNHH Dịch vụ số 2, Hà Nội
318. Vũ Trung Uý đang sống tại cộng hoà Séc
319. Trần Thanh Cảnh, nhà văn, Hà Nội
320. Vũ Tất Đạt, Làm việc tự do, Tân Định, Q.1 Saigon
321. Nguyễn Thanh Phong, giáo viên, Kon Tum
322. Phạm Tiến Phong, hưu trí, Sài Gòn
323. Nguyễn Nhã, Tiến sĩ Sử học, Sài Gòn
324. Phạm Trọng Nghĩa, công chức, tỉnh Hà Giang
325. Dương Thị Thu Liễu, Gíao xứ Gia Ray, tỉnh Đồng Nai
326. Nguyễn Văn Hùng, cựu quân nhân, Thanh Hóa
327. Định Văn Dũng, Yên Thắng, Yên Mô, Ninh Bình
328. Nguyễn Hữu Hùng, Bố Trạch, Quảng Bình
329. Đinh Nữ, chuyên gia tâm lý trị liệu, San Jose, California USA
330. Hoàng Thanh Linh, giảng viên, TP.HCM
331. Nguyễn Văn Hùng, Linh Mục Công giáo, Taoyuan. Taiwan
332. Trần Ngọc Tuấn, nhà báo tự do, Praha, CH Czech
333. Phạm Xuân Nguyên, nhà nghiên cứu văn học, nguyên Chủ tịch Hội Nhà văn Hà Nội
334. Trang Châu, nhà văn, Canada
132. Nguyễn Minh Phát, Ontario, Canada
133. Trần Nghi Hoàng, nhà văn, nhà báo. Pennsylvania, Hoa Kỳ.
134. Khánh Phương, nhà văn, nhà báo. Pennsylvania, Hoa Kỳ.
135. Trương Minh Thủy, người lao động, Q.Tân Phú, TPHCM
136. Đào Tiến Thi, Nhà nghiên cứu ngôn ngữ và văn học, nguyên Uỷ viên BCH Hội Ngôn ngữ học Việt Nam, Hà Nội.
137. Nguyễn Mạnh Hùng, Mục sư, Thủ Đức, Sài Gòn
138. Trần Đức Quế, hưu trí, Hà Nội
139. Nguyễn Tất Hanh, Hải Phòng
140. Lê Quý Hồ, kế toán - kiểm toán, Thị trấn Hà Lam, Thăng Bình, Quảng Nam.
141. Phan Xuân Sinh, nhà thơ, Hoa Kỳ
142. André Menras - Hồ Cương Quyết, nhà giáo Pháp Việt, sống ở Pháp
143. Lê Khánh Luận, TS nguyên giảng viên Đại học Kinh tế Tp.HCM, TV CLB LHĐ
144. Nam Khanh Tran, giao hàng, quận 5, SG
145. Ngô Thị Thứ, Giáo viên nghỉ hưu, TPHCM
146. Terry The Pham, Acelity Canada.
147. Huỳnh Kim Báu, nguyên TTK Hội Tri thức, TP.HCM
148. Trương Hà Vũ, hưu trí, Hà Nội
149. Bùi Minh Quốc, nhà thơ, nhà báo, Đà Lạt
150. TS. Bùi Trong Kiên, Viện Toán học, Viện Hàn lâm KH& CN VN, Hà Nội
151. Phạm Hồng Hà, hưu trí tại Nghệ An
152. Vũ Thu Hương, TS Địa vật lý, TCTy Thăm dò khai thác dầu khí PVEP, Hà Nội
153. Huỳnh Sơn Phước, Nhà báo- nguyên PTBT báo Tuổi Trẻ.
154. Nguyễn Đức Nhân, hưu trí, Sài Gòn
155. Trần Đình Sử, GS văn học, Hà Nội
156. Nguyễn Thị Thanh Bình, nhà văn, Hoa Kỳ
157. Van Pham - IT Technician - Brisbane, Australia
158. Nguyễn Hồng Kiên, nghiên cứu viên, Hà Nội
159. Nguyễn Xuân Hùng, bác sỹ tp Hà Tĩnh, tỉnh Hà Tĩnh
160. Van Tu Thai, kỹ sư CNTT, North Carolina, USA
161. Nguyen Thi Bich Hanh, Giao vien, North Carolina, USA
162. Nguyen Thien An, Hoc sinh, North Carolina, USA.
163. Hồ Quang Huy, kỹ sư Đường sắt, Nha Trang, Khánh Hòa
164. Chiêu Anh Nguyễn, nhà thơ, Sài Gòn
165. Đỗ Đình Oai, giáo viên Thạc sĩ toán học, Thành phố Quảng Ngãi
166. Mã Lam, nhà thơ, Sài Gòn
167. Julia Thủy Nguyễn - Immigaration Officer, Hoa Kỳ
168. Nguyễn Chu Quyết, Nghi Khánh, Nghi Lộc, Nghệ An
169. Ngô Ngọc Trai, luật sư, Giám đốc công ty luật Công Chính
170. Vũ Quốc Ngữ, Thạc sĩ, người hoạt động nhân quyền, nhà báo độc lập
171. Lê Quang Huy, cựu giáo chức, sinh sống ở Sài Gòn
172. Bắc Phong, nhà thơ, Ontario, Canada
173. Vũ Thạch, kỹ sư, Sài Gòn
174. Trần Đĩnh, hưu trí, tác giả Đèn Cù, sống ở Sài Gòn
175. Phan Tú Quỳnh, giáo viên về hưu, Los Angeles, USA
176. Lê Anh Hoài, nhà văn, Hà Nội
177. Đỗ Ngọc Thống, PGS.TS, Hà Nội
178. Dương Thuấn, nhà thơ, nhà nghiên cứu văn hóa, Hà Nội
179. Phan Hữu Thái Bình, kỹ sư điện, Tp. HCM
180. Đặng Quyết Tiến, cựu giảng viên Khoa Ngữ văn trường ĐH SP Thái Nguyên, Thái Nguyên
181. Phạm Xuân Thu, luật gia- doanh nhân, Berlin, CHLB Đức
182. Chu Anh Tuấn, lao động tự do, TP. Vũng Tàu
183. Nguyễn Phượng, giảng viên khoa Ngữ Văn Đại học Sư phạm Hà Nội
184. Nguyễn Phúc Hậu - Sinh viên khoa Văn trường ĐHSP TP. HCM
185. Lê Viết Yên, Sài Gòn
186. Phan Quốc Bình, Nhà thơ, TP. Vinh-Nghệ An
187. Đỗ Hồng Thành, nghiên cứu tự do, Hà Nội.
188. Thuỳ Linh, nhà văn, Hà Nội
189. Lê Thanh Huy, chuyên viên tư vấn, Sài Gòn
190. Đỗ Quang Nghĩa, kỹ sư, Đức
191. Tiết Hùng Thái - dịch giả Hiếu Tân, TP Vũng Tàu
192. Nguyễn Xuân Diện, Tiến sĩ, Hà Nội
193. Nguyễn Tâm, kỹ sư Cơ điện, Tp HCM
194. Nguyễn Thị Ngọc Trai, nhà văn, nhà báo, Hà Nội
195. Phan Thị Châu, nhà báo tự do, Tp.HCM
196. Lê Minh Tâm, hưu trí, Trần Thánh Tông, Tp Thái Bình
197. Nguyễn Tuấn Khanh, nhân viên văn phòng, Tân Bình, Tp Hồ Chí Minh
198. Trần Xuân Hoài, lao động tự do, Hà Nội
199. Nguyễn Tấn Phú (Phu Nepal), nhà nghiên cứu Nam Á, Hiện sống tại Nepal
200. Nguyễn Trọng Chức, nhà báo, P.17, Q. Bình Thạnh, Tp HCM
201. Mai Văn Rê, kinh doanh, Sài Gòn
202. Nguyễn Chí Thuận, kinh doanh tự do, Đà Nẵng
203.Vũ Minh, phường Hoàng Văn Thụ, TP Thái Nguyên
204. Trịnh Hồng Trang, giáo viên hưu trí, Ba Đình, Hà Nội
205. Nguyễn Văn Đức, Lao động tự do, Q.12, TP HCM
206. Vinh Anh, CCB, Đống Đa-Hà Nội
207. Nguyễn Trung Dân, nhà báo, nguyên Q. Tổng Biên tập báo Du Lịch (bị thôi chức năm 2008 do đăng bài báo động TQ chiếm Ải Nam Quan và Biển, đảo), cựu Trưởng Văn phòng NXB Hội Nhà Văn (đã nghỉ hưu).
208. Phạm Kỳ Đăng, làm thơ, viết báo, dịch thuật, CHLB Đức
209. Lê Xuân Thành, kỹ sư, sống tại Nha trang Khánh Hoà
210. Phùng Chí Kiên, Designer, quận Hai Bà Trưng, Hà Nội.
211. Hoàng Nhơn, kinh doanh, ở Sài Gòn.
212. Chu Xuân Hẹ, kinh doanh, Thành phố Đà Nẵng
213. Nguyễn Ngọc Sơn, bác sĩ nghỉ việc, Long Điền, Bà Rịa Vũng Tàu
214. Nguyễn Thị Bích Hoa, nội trợ. Long Điền, Bà Rịa Vũng Tàu
215. Đỗ Thái Bình, kỹ sư đóng tàu, Phó Chủ tịch Hội Công nghiệp Tàu thuỷ Việt Nam, uỷ viên BCH Hội KHKT Biển Tp.HCM
216. Tô Oanh, giáo viên nghỉ hưu, TP Bắc Giang
217. Nguyễn Hoài Sơn, kỹ sư điện tử, Sài Gòn
218. Antoine Nguyen Quang Trung, Linh mục, Gx Vạn Lộc, Giáo phận Vinh
219. Trần Huy Quang, nhà văn, Nghệ An
220. Lê Văn Lâm, Quảng Bình làm việc ở Nhật Bản
221. Nghiêm Ngọc Trai, kỹ sư hưu trí, Hà Nội
222. Lê Phước Sinh, dạy học, Sài Gòn
223. Trịnh Đình Hoà, hưu trí, quận Đống Đa, Hà Nội
224. Nguyễn Văn Hải, Blogger Điếu Cày, cựu TNLT, sống tại Hoa Kỳ
225. Trần Thị Giao Phương, Sài Gòn, Việt Nam
226. Nguyễn Ngọc Giao, nhà giáo nghỉ hưu, Paris, Pháp
227. Nguyễn Quang Lập, nhà văn, Sài Gòn
228. Vũ Minh Vương, Đức Giang, Long Biên, Hà Nội
229. Huỳnh Công Thuận, nhà báo tự do, Sài Gòn
230. Trần Thanh Tuấn, giảng viên, Trường Đại học Khoa học Tự nhiên Hà Nội
231. Nguyễn Thiện, tác giả chương trình “Dân ta biết sử ta”, TPHCM
232. Đinh Vạn Vĩnh Phát, kỹ sư CNTT, Sài Gòn
233. Nguyễn Bá Dũng, hưu trí, Hà Nội
234. Nguyễn Viễn, cử nhân kinh tế, Hà Nội
235. Đinh Tấn Lực, kỹ sư điện lực (đã nghỉ hưu), Quy Nhơn, Bình Định
236. Nguyễn Xuân Độ, cựu chiến binh D 35 F305 tại Quảng Đà, năm 79 tái ngũ chống giặc ở Bình Liêu - Quảng Ninh. Sống tại Hải Dương
237. Trần Đức Thạch, nhà thơ, cựu tù nhân lương tâm, Nghệ An
238. Trương Chí Tâm, Cử nhân y khoa, TP HCM
239. Huỳnh Nhật Hải, hưu trí. Đà Lạt
240. Huỳnh Nhật Tấn, hưu trí. Đà Lạt
241. Thu Phong, nhà văn, Sài Gòn.
242. Hoàng Hải Đăng, nghề nghiệp tự do, Q.1, TP.HCM
243. Đỗ Cao Cường, đạo diễn, phóng viên điều tra
244. Nguyễn Trạch Công, lao động tự do, Nghệ An
245. Võ Tiến Dũng, kỹ sư thiết kế cơ khí, TP. Biên Hòa, Đồng Nai
246. Trần Thị Hường, cán bộ hưu trí, Việt Nam
247. Lê Xuân Diệu, kinh doanh, BMT – Daklak
248. Nguyễn Minh Tân, luật sư, Tp.HCM
249. Lê Xuân Hòa, kỹ sư Dầu khí (đã hưu trí), TP. Vũng Tàu, Bà Rịa - Vũng Tàu
250. Phạm Minh Hoàng, hưu trí, Paris, Pháp
251. Phan Đình Thanh, Oldenburg, Cộng hòa LB Đức
252. Lý Thành Đạt, hưu trí
253. Nguyễn Lê Thu Mỹ, hưu trí
254. Nguyễn Huy Đĩnh, hưu trí, Tiền Giang
255. Lê Trọng Hùng, nhà báo độc lập, Hai Bà Trưng, Hà Nội
256. Vi Nhân Ngãi, công nhân, TP Uông Bí - tỉnh Quảng Ninh
257. Võ Thị Bích Huyền, hưu Trí, TPHCM
258. Nguyễn Đào Trường, hưu trí, Hải Dương.
259. Trần Rạng, nhà giáo, Sài Gòn
260. Nguyễn Hữu Toàn, PGS.TS.BS - Đà Nẵng
261. Nguyễn Chỉnh Huấn, phục vụ tại D126/BTTM-QĐNDVN (thương tật), Bình Chánh
262. Nguyễn Quang Vinh, nguyên Sĩ quan Quân đội nghỉ hưu, Đội Cấn, Hà Nội
263. Hà Văn Thịnh, nguyên giảng viên trường ĐH Khoa học Huế
264. Nguyễn Tường Thụy, nhà báo độc lập, Hà Nội
265. Huỳnh Quang Minh, cử nhân Kinh tế, Quảng Nam
266. Trịnh Hồng Trang, giáo viên hưu trí, Ba Đình, Hà Nội
267. Lê Vinh Quốc, TS Giáo dục, nguyên P. Hiệu trưởng trường ĐH Sư phạm Tp.HCM
268. Phan Quốc Tuyên, kỹ sư Tin học, Genève, Thụy Sĩ
269. Cát Toàn Thắng, kỹ sư Hóa ĐHBKHN, Hà nội.
270. Phạm Nam Hải, Q. Bắc Từ Liêm - TP Hà Nội
271. Phạm Hoàng Phiệt, nguyên Giáo sư ĐH YD TP HCM, Q.1 Tp HCM
272. Nguyễn Vũ Hằng, lao động tự do, Đông Anh, Hà Nội
273. Nguyễn Phương Trung, nghỉ hưu, Hà Nội
274. Nguyễn Văn Nghiêm, lao động tự do, Phương Lâm. Tp Hòa Bình - Hòa Bình
275. Hoàng Thanh Tuấn, kĩ sư Xây dựng, Quận 5, Sài Gòn
276. Lê Anh Dũng - Q10 Saigon
277. Nguyễn Xuân Châu, y tá, USA
278. Trần Thập Nhất, hưu trí, Sài Gòn, Việt Nam.
279. Lý Quốc Huy, công nhân, xã Viên An, Ngọc Hiển, Cà Mau
280. Trần Hồ Dũng, cựu giáo viên, Tacoma, Washington, USA
281. Lê Hoàng Thanh Thủy, cựu giáo viên, Tacoma, Washington, USA
282. Nguyễn Hoàng Kỳ, kinh doanh tự do, TP Vũng Tàu
283. Hoàng Ngọc Lĩnh, hưu trí, B.C Canada.
284. Hoàng Văn Khẩn, Tiến sĩ sinh hoá học, Genève Thuỵ Sĩ
285. Tri Dân - doanh nhân tự do ở Cộng hoà Séc
286. Đặng Bích Phượng, hưu trí, Hà Nội
287. Trần Thị Hương, Germany
288. Nguyễn Thị Thanh Xuân, giảng viên, nghỉ hưu, Sài Gòn
289. Thiếu Khanh, nhà thơ, dịch giả, Sài Gòn
290. Nguyễn Ngọc Huy, nghiên cứu sinh, Nghệ An, đang cư trú: Hoa Kỳ
291. Tương Lai, GS, nguyên Viện trưởng Viện Xã hội học VN, Tp HCM
292. Lê Công Giàu, nguyên Tổng Thư ký Tổng hội Sinh viên Sài Gòn 1966
293. Huỳnh Tấn Mẫm, nguyên Chủ tịch Tổng hội Sinh viên Sài Gòn
294. Hoàng Quân, Plano, Texas, Hoa Kỳ
295. Nguyễn Công Trình, công nhân lao động tại Hàn Quốc
296. Hee-Young Olivia Kim, Hàn Quốc
297. Ngô Xuân Thọ, nghề tự do, Hà nội
298. Đào Thanh Thuỷ, hưu trí, Hà Nội
299. Trần Châu, nông dân Nam Bộ Sài Gòn Việt Nam
300. Đàm Việt Hùng, kỹ sư cầu đường đã nghỉ hưu, TP.HCM
301. Lê Văn Kiệt, TS Khoa học, Bruxelles (Belgium)
302. Nguyễn Anh Quân, công nhân, Lương Sơn - Hòa Bình
303. Minh Cận, công dân Việt Nam, cư trú tại thành phố Đà Nẵng
304. Hồ Thị Liên, hưu trí, P. Thạc Gián, TP. Đà Nẵng
305. Bùi Đức Ngọc, kỹ sư Hoá, hưu trí. Tp. Hồ Chí Minh
306. Lê Phú Chương, Cơ sở sản xuất - gia công sản phẩm thêu thời trang. Q.8, Sài Gòn
307. Nguyễn Thị Mười, hưu trí, Sài Gòn
308. Viet Nguyen, ROV, Lafayette, Louisiana, USA
309. Chu Hảo, Viện Phan Châu Trinh, Hội An
310. Đào Thị Ngọc Trâm, giáo viên nghỉ hưu, TPHCM
311. Trương Minh Tuấn, kinh doanh tự do, Biên Hoà, Đồng Nai
312. Đào Minh Châu, tư vấn Hành chính công và Chính sách công, Hà Nội
313. Lê Minh Đường, hiện sống tại Tp HCM
314. Nguyễn Trọng Cương, Học viện Nông nghiệp Việt Nam
315. Nguyễn Xuân Tùng, Hà Nội Việt Nam
316. Nguyễn Đức Hùng, Cầu Giấy – Hà Nội
317. Nguyễn Đức Long, Giám đốc Cty TNHH Dịch vụ số 2, Hà Nội
318. Vũ Trung Uý đang sống tại cộng hoà Séc
319. Trần Thanh Cảnh, nhà văn, Hà Nội
320. Vũ Tất Đạt, Làm việc tự do, Tân Định, Q.1 Saigon
321. Nguyễn Thanh Phong, giáo viên, Kon Tum
322. Phạm Tiến Phong, hưu trí, Sài Gòn
323. Nguyễn Nhã, Tiến sĩ Sử học, Sài Gòn
324. Phạm Trọng Nghĩa, công chức, tỉnh Hà Giang
325. Dương Thị Thu Liễu, Gíao xứ Gia Ray, tỉnh Đồng Nai
326. Nguyễn Văn Hùng, cựu quân nhân, Thanh Hóa
327. Định Văn Dũng, Yên Thắng, Yên Mô, Ninh Bình
328. Nguyễn Hữu Hùng, Bố Trạch, Quảng Bình
329. Đinh Nữ, chuyên gia tâm lý trị liệu, San Jose, California USA
330. Hoàng Thanh Linh, giảng viên, TP.HCM
331. Nguyễn Văn Hùng, Linh Mục Công giáo, Taoyuan. Taiwan
332. Trần Ngọc Tuấn, nhà báo tự do, Praha, CH Czech
333. Phạm Xuân Nguyên, nhà nghiên cứu văn học, nguyên Chủ tịch Hội Nhà văn Hà Nội
334. Trang Châu, nhà văn, Canada
Đợt
3
335. Tống văn Công, nhà báo, nguyên Tổng Biên
tập báo Lao Động
336. Nguyễn Thị Hoàng Bắc, nhà văn,
Virginia, Hoa Kỳ
337. Võ Quang Tu, Hưu trí, Montreal, Canada
338. Nguyễn Công Thuận, kinh doanh tự do,
Pleiku Gia Lai
339. Nguyễn Hưng, kỹ sư Điện tử, San Jose,
California, Hoa Kỳ
340. Vũ Phương Chiến, lao động,
Goldenstedt 49424, Germanny
341. Phan Bá Phi, Thạc sĩ IT, hưu trí, Seattle
USA
342. Trần Thanh Vân, kiến trúc sư, Hà Nội
343. Nguyễn Trường Chinh, dân oan, Kim
Thành, Hải Dương
344. Phạm Thành, nhà báo - nhà văn, Hà Nội
345. Đặng Hoàng Tú, sinh viên khoa Pháp
văn Đại học Sư phạm TP. HCM
346. Nguyễn Tuyết Lan, nội trợ, Nha Trang
- Khanh Hòa
347. Nguyễn Thanh Tịnh, kinh doanh tự do,
Bình Dương
348. Trần Văn Bình, TS KS, Frankfurt/M,
CHLB Đức
349. Nguyễn Hùng, CA, USA
350. Trần Thiên Hương, kỹ sư, Cộng hòa Liên
bang Đức
351. Lương Hoàng Bách, Cộng hòa Liên bang
Đức
352. Lương Ngọc Minh, Cộng hòa Liên bang Đức
353. Nguyễn
Thế Hùng, GS.TS , Đại học Đà Nẵng, Phó Chủ tịch Hội Cơ học Thủy khí VN
354. Vũ Đình Bon, TS, kỹ sư Công chánh, Hoa-kỳ
355. Đinh Văn Hương, bác sỹ Y khoa, Hoa Kỳ
356. Trần Công Khánh, hưu trí, ở Hải Phòng
357. Đào văn Tùng, hưu trí, Mỹ Tho, Tiền
Giang
358. Hoàng Xuân Họa, viết văn tự do, Hà Nội
359. Hoàng Quân, TX Hoa Kỳ
360. Nguyễn Trọng Hoàng, bác sĩ, Paris –
Pháp
361. Hồ Văn Huy, hiện sống ở Angola, quê
quán Quỳnh Lưu, Nghệ An
362. Nguyễn Thống, Chủ tịch Hội Bạn yêu
ĐÀI TNVN, Yên Dũng, Bắc Giang
363. Tran Quang Tuyet, TS Vật lý, Seattle,
USA
364. Nguyễn Kỳ Nam - nhiếp ảnh gia, nhà
báo tự do
365. Nguyen Hoang Phiet, kinh doanh tự do,
Chung cư C2 Him Lam P7,Q8,TP HCM
366. Hà Văn Thùy, nhà văn, Sài Gòn
367. Trần Nguyễn Anh Phong, bác sĩ, Q3, Tp
HCM
368. Vũ Văn Học, kỹ sư tàu biển, Q6, Tp
HCM
369. Lê Văn Nhân, tài xế xe tải, Bình Phước
370. Vũ Đình Cúc, công nhân may, Q7, Tp
HCM
371. Lê Văn Giang, buôn bán tự do, Quận
Tân Bình, Tp HCM
372. Ngô Thị Bảo Anh, chuyên viên trang điểm,
Q7, Tp HCM
373. Nguyễn Văn Nghệ, làm ruộng, Diên
Khánh, tỉnh Khánh Hòa.
374. Lý Gia Thành, giảng viên, Sài Gòn
375. Nguyễn Thành Đô, giáo viên, Gia Lâm
Hà Nội
376. Phạm Quang Hoa, bác sĩ, Đà Lạt Lâm Đồng
377. Lê Trung Sơn, kinh doanh tự do, Hà Nội
378. Nguyễn Xuân Liên, hưu trí, Hà Nội
379. Võ Đình Vũ Thiên, Nha Trang- Khánh
Hoà
380. Nguyễn Hoài Sơn, hưu trí, Nha Trang
381. Trần Văn Phong, cán bộ hưu trí, Nghệ
An
382. Trần Công Tâm, hưu trí, Sài Gòn
383. Nguyễn Văn Huỳnh, Nghệ An
384. Bùi Nghệ, hưu trí, cư ngụ ở Sài Gòn
385. Nguyễn Phạm Kim Sơn, nguyên Trưởng Đài
viễn thông ICS Đà Nẵng, Đà Nẵng.
386. Hồ Hữu Liên - Cam Ranh, Khánh Hòa
387. Võ Ngọc Lục, kinh doanh, làm báo tự
do, Buôn Ma Thuột, Daklak
388. Nguyễn Xuân Quy, nghề tự do, Tiền
Giang
389. Trần Hưng Thịnh, kỹ sư đã nghỉ hưu,
P.Đại Kim, Q.Hoàng Mai, Hà Nội
390. Phan Thị Hoàng Oanh, TS Hoá học, Sài
Gòn
391. Hồ Thiếu Vân, nhà giáo nghỉ hưu, Hà Nội
392. Hoàng Đình Sâm, cán bộ về hưu, Hà Nội
393. Nguyên Văn Vỵ, giáo viên nghỉ hưu, Q.
Đống Đa, Hà nội
394. Trần Văn Toàn, nghề nghiệp tự do,
Trung Hoà, Cầu Giấy, Hà Nội
395. Đoàn Quang Tuyến, cán bộ hưu trí, Đồng
Nai
396. Nguyễn Tiến Hùng, Hòa Khánh Nam, Liên
Chiểu, Đà Nẵng
397. Hoàng Vũ, công nhân, Columbia SC USA
398. Trần Duy Hưng, hưu trí, Tây Hồ, Hà Nội.
399. Phan Văn Phong, nghề nghiệp tự do, quận
Hoàn kiếm Hà Nội
400. Trần Đức Nguyên, chuyên gia cao cấp
hưu trí, Hà Nội
401. Đàm Thị Vân Lan, nhân viên kế toán,
TPHCM, VN
402. Phạm Xuân Thanh, Giám đốc dự án,
TPHCM, VN
403. Nguyễn Phúc Vĩnh Thanh, hưu trí, Temecula
California USA
404. Tina Nguyễn, hưu trí, Temecula
California USA
405. Kevin Phi Nguyễn, Business Owner, Agoura
Hills, California USA
406. Kimmy Hà, Business Owner, Temecula
California USA
407. Jason Nguyễn, Business Owner, Augusta
Maine USA
408. Phan Văn Sáu, hưu trí, Garden Grove
CA, USA
409. Linh Nguyễn Nhật Lê, Nails Tech
Temecula CA USA
410. Khương Trần, công nhân Westminster CA
USA
411. Xuân Thuợng Hà, Business Owner
Temecula Ca USA,
412. Thùy Dương Nguyễn, Business Owner
Agoura Hills CA, USA
413. Khanh Công Lê, hưu trí Santa Ana CA,
USA
414. Ngô Văn Phượng - nghỉ hưu - Sài Gòn
415. Phạm Ngọc Sơn, Quận 3 Sài Gòn.
416. Vương Kiều, làm thơ - dịch thuật, Sài
Gòn
417. Nguyễn Văn Lý, cựu giáo chức &
doanh nhân, Tp Đà Nẵng
418. Phan Văn Hiến, PGS TS, Hà Nội
419. Lê Phước Long, doanh nhân, Quảng Trị
420. Võ Thị Mai Nhung, nhà báo, Đà Nẵng
421. Nguyễn Văn Quỳnh, kỹ sư, Daejeon, Hàn
Quốc
422. Trần Thế Việt, nguyên Bí thư Thành ủy,
Tp Đà Lạt, Lâm Đồng
423. Dương Quốc Huy, cựu chiến binh, Hà Nội.
424. Triệu Mây, nhạc sĩ Du ca Việt Nam.
Bình Thạnh - Sài Gòn
425. Takemoto Haruki, kỹ sư Cơ khí, Yokohama City, Japan
426. Võ Xuân Tòng, nhà văn, hội viên Hội Nhà
văn Hà Nội
427. Trần Vũ Việt Trung, kỹ sư, Tp Hồ Chí
Minh
428. Nguyễn Quốc Bình, KS Xây dựng đã nghỉ
hưu, Q1, TP Hồ Chí Minh
429. Võ Hồng Ly, nhân viên văn phòng, Q.2,
Sài Gòn
430. Matthew Nguyễn, chủ đầu tư, Portland,
OR 97218 Hoa Kỳ
431. Cao Lập, hưu trí, California Hoa Kỳ
432. Nguyễn Thị Trúc Vân, Quận 8, Sài Gòn
433. Nguyễn Thị Lan, kinh doanh, Mộc Châu
Sơn La
434. Lê Thùy Phương, giáo viên nghỉ hưu,
Kiên Giang
435. Tôn Quang Trí, cán bộ hưu trí, nguyên
PGĐ sở CN tp HCM
436. Nguyễn Công Bình, hưu trí, Úc Châu
437. Nguyên Ngọc Tiến - Thi sĩ Mưa Sa, TP
Tây Ninh, Tây Ninh
438. Nguyễn Huy Canh, hưu trí, Hải Phòng
439. Nguyễn Lâm, giáo viên, Sài Gòn
440. Phạm Trung Vinh, facebooker Anh Sáu
Kiên Giang, Kiên Giang
441. Trương Dũng, chụp ảnh, Đà Lạt, Lâm Đồng
442. Nguyễn văn Hùng Q.10, Thành phố HCM
443. Trần Thiện Kế, dược sĩ, Hà Nội
444. Trần Đức Đôn, lão nông, Hoa Kỳ
445. Nguyễn Hùng Anh, Tiến sỹ, Đại học
California, Irvine. Hoa Kỳ.
446. Lê Thái Kim Hoàng, nhân viên kinh
doanh, Ninh Thuận
447. Huỳnh Thế Phùng, PGS.TS. ĐH Khoa học
Huế.
448. Nguyễn Khắc Hân, họa sĩ, Canada
449. Hà Thúc Huy, TS Hóa học. Sài Gòn
450. Lê Thị Cẩm, giáo viên về hưu, SàiGòn
451. Hà Minh Hiển, TS,
nguyên Giảng viên ĐH. Mỏ-Địa chất Hà Nội, Warszawa- CH. Ba Lan
452. Trần Viết Tuyên, kiến trúc sư,
Hamburg, CHLB Đức
453. Phạm Quang Chiểu, Hội USAVSC California
(USA Veterans Support Command)
454. Doãn Quốc Khoa, TS. KTS, Hà Nội
455. Phan Tùng Giang. Làm nghề tự do.
Budapest, Hungary
456. Bùi Hải Lâm, nghề nghiệp Tự do, Bình
Định
457. Phạm Quang Vinh, kỹ sư, Quận 7,
TP.HCM
458. Võ Thị Mai Nhung, nhà báo, Đà Nẵng
459. Chu Minh Toàn, Thạc sĩ CNTT, Pháp
460. Trần Thị Tính, công nhân viên, TP.
Vũng Tàu - BRVT
461. Phạm Văn Hiền, chuyên viên phòng Tư
liệu, trường Chính trị Tô Hiệu, Hải Phòng.
462. Dương Hồng Lam, hưu trí, tp HCM
463. Phạm Mai Hiền, Hà Nội
464. Bùi Thị Minh Trâm, nội trợ, Q Gò Vấp
465. Đoàn Trần Hiệp. Cad/cam design.
Victoria, Australia
466. Hoàng Lê Hiếu, KTS, Đà Nẵng
467. Trần Bình Trọng, hưu trí, NSW -
Australia.
468. Lê Mạnh Đức, hưu trí -TPHCM
469. Nguyễn Hiệp, hưu trí, Thừa Thiên Huế
470. Doãn Mạnh Dũng, kỹ sư, Quận 3, tp HCM
471. Lê Văn Học, cử nhân luật & CEO,
Bà Rịa - Vũng Tàu
472. Nguyễn Hồng Hà Nội, công nhân KCN
Nhơn Trạch-Đồng Nai.
473. Ngo Kim Dung, bác sĩ đã nghỉ hưu,
Pháp
474. Nguyễn Ngọc tú, TS, Đại học James Cook,
Úc
475. Lê Văn Oanh kỹ sư XD Hà Nội
476. Hồ Sỹ Hải, kỹ sư, CCB đã nghỉ hưu ở
Nam Từ Liêm- Hà Nội
477. Nguyễn Mai Oanh, Sài gòn
478. Khổng Hy Thiêm, Suối Tân Cam Lâm
Khánh Hòa
479. Chu Sơn, nhà thơ tự do, Thủ Đức - Sài
Gòn
480. Nguyễn Thị Kim Thoa, bác sĩ - Thủ Đức
- Sài Gòn
481. Trần văn Hoàng, tư vấn cơ sở dữ liệu,
Toronto Canada
482. Hà Trung Liêm, hưu trí, Omaha, Tiểu
bang Nebraska. Hoa Kỳ
483. Đoàn Minh Hùng, thi sĩ tự do. Tp Tuy
Hòa, Phú Yên
484. Nguyễn Thị Hà, Tân Hồng, Từ Sơn, Bắc
Ninh
485. Đặng Hoàng Tú, SV khoa Pháp văn ĐHSP
TP.HCM, thành viên tập san văn học Quán Văn
486. Tư Đồ Tuệ, Toronto, Canada
487. Hồ Văn Tích, cán bộ hưu trí, Quận 7
Sài Gòn
488. Đỗ Thị Bắc Giang, kế toán, Sài Gòn
489. Phạm Văn Chính - London - Vương Quốc
Anh
490. Anhngoc B. Le, McDonough, Georgia, Hoa
Kỳ
491. Ba Bà, Morrow, Georgia, Hoa Kỳ
492. Giáng Vân, nhà thơ, Hà Nội
493. Võ Đình Xứng, Giám đốc công ty TNHH
MTV Phú Sơn Đông, TP Đà Nẵng
494. Nguyễn Thanh Hiệp, công nhân KCN Linh
Trung, Thủ Đức.
495. Võ Mạnh Hiệp, giáo viên dạy tiếng
Anh, Mộ Đức, Quảng Ngãi
496. Ngô Văn Giá, nhà văn, Hà Nội
497. Quảng Tánh Trần Cầm, nhà thơ, USA
498. Nguyễn Tú, Q7, Sài Gòn
499. Nguyễn Minh Tuấn, bác sĩ, Tp Đà
Nẵng, Việt Nam
500. Phạm Quốc Phong, Cộng Hoà Liên Bang Đức
501. Ngô Sĩ Phong, luật gia, Thủ Dầu Một,
Bình Dương
Đợt
4.
502. Mai Thanh Sơn PhD, Viện KHXH vùng
Trung bộ
503. Đào Văn Nam, kỹ sư thuỷ lợi, Tp. Hồ
Chí Minh
504. Phan Trung Kiên, kỹ sư, kinh doanh tự
do, Q.8 TPHCM
505. Vũ Thư Hiên, nhà văn, Paris France
506. Nguyễn Đăng Khôi, hưu trí, Hoa Kỳ
507. Nguyễn Thị Phương Hòa, dược sĩ,
508. Dương Xuân Mức, Thạc sỹ, kỹ sư xây dựng,
Tp Đà Nẵng
509. Vũ Ngọc Thăng, Dịch giả, Canada
510. Giáng Vân, nhà thơ, Hà Nội
511. Nguyễn Văn Đài, luật sư, đang tị nạn
chính trị tại CHLB Đức
512. Thanh Nguyen-Brem, TS hóa học đã nghỉ
hưu, Đức
513. Doãn Minh Đăng, TS điều khiển tự động,
Cộng hòa Liên bang Đức
514. Vũ Thế Cường, TS cơ khí, München,
CHLB Đức
515. Nguyễn Thị Hiền, München, CHLB Đức
516. Ngô Thị Kim Cúc, nhà văn- nhà báo,
Sài Gòn
517. Vũ Ngọc Yên, nhà báo,
Stuttgart-CHLB Đức
518. Trần Văn Thành, kỹ sư thông tin học,
ngoại ô Paris – Pháp
519. Phạm Thị Thiên Hương, điều dưỡng tự
do, VN
520. Ngụy Hữu Tâm, dịch giả, Hà Nội
521. Lê Trung Tuấn - kỹ sư cơ khí hồi hưu, Filderstadt
- Đức
522. Hà Dương Tường, nhà giáo về hưu, Pháp
523. Nguyễn Xuân Lâm, nghề tự do, Nghi
Hoa, Nghi Lộc, Nghệ An.
524. Nguyễn Nhơn Mai Ly, chuyên viên ngân
hàng, Washington, USA
525. Đào Đình Bình, kỹ sư hưu trí, Hà Nội
526. Trần Nhân Chính, kỹ sư tin học, Đồng
Nai
527. Đào Thu Huệ, giảng viên ĐH, Hà Nội
528. Nguyễn Phước Long, hưu trí, TP. HCM
529. Nguyễn Văn Hồng, giáo viên nghỉ hưu, Châu
Khê, Từ Sơn Bắc Ninh
530. Hoàng Thị Như Hoa, bộ đội xuất ngũ, Vĩnh
Quỳnh, Thanh Trì Hà Nội
531. Nguyễn Hùng, CA, USA
532. Lê Mạnh Năm, nghiên cứu viên, Hà Nôi
533. La Khắc Hòa, giảng viên đại học đã
nghỉ hưu
534. Trương Văn Thương, dạy học, Sài Gòn
535. Nguyễn Thiện Tống, PGS.TS Kỹ thuật
Hàng không, Sài Gòn
536. Trương Thị Minh Sâm, nội trợ, Đồng
Nai
537. Nguyễn Thị Nguyệt, nhân viên hưu trí,
Đà Lạt, Lâm Đồng
538. Phạm Văn Hào, Bà Rịa- Vũng Tàu
539. Phan Trọng Khang, thương binh 2/4, An
Dương Yên Phụ Tây Hồ Hà Nội
540. Đỗ Thị Song Ngân, bác sỹ, Hà Nội
541. Nguyễn Quang Vinh, nông dân, TP.HCM
542. Huỳnh Ngọc Chênh, công dân, Hà Nội
543. Nguyễn Thuý Hạnh, công dân, Hà Nội
544. Lê Thị Thanh Hằng, điều dưỡng viên,
TX Hoa Kỳ
545. Nguyễn Gia Hảo, chuyên gia Tư vấn độc
lập, Hà nội
546. Vân Thảo, nhà văn, quận Cầu Giấy, Hà
Nội
547. Nguyễn Quốc Huy, giáo viên, Kỳ Sơn,
Hoà Bình.
548. Lê Thương, hoạ sĩ, Cộng hoà Hungary
549. Pham Thai Long, kỹ sư, Nha Trang, Khánh
Hoa
550. Võ Văn Hiền, nghề tự do, Hà Nội
551. Nguyễn Tuấn Anh, cựu sỹ quan chống
Trung Quốc, Việt Trì -Phú Thọ
552. Võ Thị Hảo, nhà văn, CHLB Đức
553. Phạm Hồng Thắm, nhà báo, hưu trí, Hà
Nội
554. Nguyễn Như Khuê, kỹ sư, doanh nhân, Sài
Gòn
555. Đỗ Hữu Chung, chuyên viên kinh doanh,
Quận 8, Sài Gòn
556. Nguyễn Trần Hải, người lao động về
hưu, cựu sĩ quan Hải quân NDVN. Tp Hải Phòng.
557. Nguyễn Trọng Việt, kỹ sư Thủy lợi đã
về hưu, quận Hai Bà Trưng, TP Hà Nội.
558. TS Nguyễn Mê Linh, hưu trí, tp HCM.
559. Đặng Mai, thợ cơ khí, ở quận 4 Saigon
560. Đoàn Phú Hòa, phiên dịch, Cộng Hòa
Séc
561. Hoàng Thị Lan Anh, nhân viên kỹ thuật
công ty Märklin – Stuttgart, Cộng Hòa Đức
562. Trịnh Bá Khiêm, dân oan, Dương Nội,
Hà Đông, Hà Nội
563. Cấn Thị Thêu, dân oan, Dương Nội, Hà
Đông, Hà Nội
564. Trịnh Bá Phương, dân oan, Dương Nội,
Hà Đông, Hà Nội
565. Trịnh Bá Tư, dân oan, Dương Nội, Hà
Đông, Hà Nội
567. Lê Thế Tới, nghề nghiệp đầu bếp, Thanh
hóa
568. Nguyễn Khắc Bình, P.15, Quận Phú Nhuận,
Thành Phố Hồ Chí Minh
569. Trần Lương, hoạ sĩ, Hà Nội
570. Trương Lâm, kiến trúc sư, Sài Gòn
571. Hà Văn Chính, hưu trí, Cần Thơ
572. Phạm Gia Khánh, sĩ quan dự bị bộ đội,
Cần Thơ
573. Ngô Thị Hồng, dịch giả, Q8, Tp HCM
574. Lê Minh Lương, kinh doanh tự do, Đak
Lak
575. Thiều Bá Linh, buôn bán nông sản, Lạng
Sơn
576. Nguyễn Thị Duyên, chuyên viên tài
chính, Q. Tân Bình, Tp HCM
577. Nguyễn Thị Di, chuyên viên tài chính,
Q. Tân Bình, Tp HCM
578. Đỗ Thị Như Quỳnh, công nhân may, KCX
Tân Thuận, Q7, Tp HCM
579. Lê Nguyễn Phương Anh, công nhân may,
KCX Tân Thuận, Q7, Tp HCM
580. Nguyễn Ngọc Tường Vy, cử nhân luật
chuyên viên tư vấn, Nghệ An
581. Đinh Văn Trung, KTS – hoạ sĩ, Hà Nội
582. Hồ Hoàng Anh, hưu trí, Q12, Sài Gòn
583. Phạm Văn Lộc, công nhân cơ khí, Q10,
Tp HCM
584. Nguyễn Minh Châu, dược sĩ, Vĩnh Long
585. Hà Thanh Huyền, nhà báo, Sài Gòn
586. Vũ Thị Cẩm Tú, nhân viên bán xăng dầu,
TDM, Bình Dương
587. Hoàng Văn Chí, tài xế taxi, Q9, TPHCM
588. Nông Thị Út, bán hàng online, Q3, Tp
HCM
589. Mai Thị Ánh Tuyết, KTV chăm sóc sắc đẹp,
Nha Trang
590. Cao Xuân Trường, kinh doanh nhà hàng,
Tuy Hoà, Phú Yên
591. Cao Thị Khánh Hà, kinh doanh nhà
hàng, Tuy Hoà, Phú Yên
592. Lô Nguyễn Văn Hưng, KTS, Q9, HCM
593. Võ Bảo Ngọc, hoạ sĩ, Bình Định
Đăng ký:
Bài đăng (Atom)
-
Lập Quyền Dân xin kính chúc các đấng bề trên và toàn thể các tín hữu Ky tô giáo trong nước và nước ngoài Mùa Giáng sinh 2024 vui vẻ, bình an...
-
Chủ nghĩa thực dụng Mỹ muôn năm. Ngày nhỏ đang đi học tôi thường nghe các thầy giáo và người lớn tán tụng chủ nghĩa thực dụng Mỹ.Tinh thần ...
-
Xin chân thành cảm ơn Tiến sĩ Trần Quốc Hùng đã chia sẻ , và xin đặc biệt giới thiệu bài tham luận cực sâu sắc của Đại sứ Singapore Bilahari...

